Theo Quyết định 2341/QĐ-BTC , kể từ ngày 1-11 tới các doanh nghiệp buộc phải dùng chữ ký số đăng ký với cơ quan thương chính để thông quan hàng hóa. Việc Bắt buộc sử dụng chữ ký số được ứng dụng luôn trong tuổi chạy thử nghiệm hệ thống thông quan tự động theo cơ chế một cửa quốc gia phục vụ hiện đại hóa hải quan tại Việt Nam - VNACCS/VCIS (từ tháng 11-2013 đến tháng 2-2014) nhằm đảm bảo an toàn, nâng cao giá trị pháp lý của các giao dịch khai báo thương chính, phòng ngừa gian lậu và sai phạm. Trong đó, chữ ký số công cộng là chữ ký đã được cơ quan thương chính công nhận xứng với hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan như chữ ký số của các nhà cung cấp FPT-CA, Bkav-CA... Trước khi dùng chữ ký số, người khai hải quan phải đăng ký chữ ký số với cơ quan hải quan phê duyệt Cổng thông tin điện tử thương chính. Ông Ngô Tuấn Anh, Giám đốc Công ty Bkav Telecom, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chữ ký số Bkav-CA, cho rằng đây đích thực là cú hích cho thị trường dịch vụ chữ ký số bởi số lượng doanh nghiệp dùng chữ ký số trong các giao tiếp trực tuyến trong thời kì qua còn rất ít. Theo thống kê của Trung tâm chứng nhận chữ ký số nhà nước, tính đến tháng 8 năm nay Việt Nam đã cấp phép sử dụng cho 300.000 chữ ký số. Hiện chữ ký số mới chỉ được ứng dụng trong hoạt động kê khai thuế qua mạng, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, trong khi hiện rất nhiều ngành có tiềm năng về nhu cầu dùng chữ ký số (chứng khoán, ngân hàng, thương chính...) Lại chưa được vận dụng nhiều. Cũng theo ông Tuấn Anh thì Bkav đã chuẩn bị xong hạ tầng kết nối và dịch vụ khai báo thương chính trọn gói gồm cả chữ ký số, phần mềm khai thuế, phần mềm khai hải quan cho khách hàng. Hiện Bkav chưa tiết lậu giá cả cụ thể của dịch vụ này. Ngóng ở giác độ đầu tư để phát triển thị trường, ông cho rằng thị trường dịch vụ khai báo thuế, hải quan... Qua mạng sẽ phát triển khi mà uổng duy trì các nền tảng công nghệ thông tin mà doanh nghiệp phải bỏ ra là không quá lớn. Về hạ tầng công nghệ thông báo như đường truyền internet thì hầu như doanh nghiệp nào cũng đều có sẵn. Thêm vào đó là hoài dành cho chữ ký số cũng không quá cao, cụ thể thiết bị dùng chỉ khoảng 500.000 đồng và phí thuê bao ở mức 1 triệu đồng/năm. “Vì vậy, nếu đem mức đầu tư này so sánh với việc doanh nghiệp khai thuế theo hình thức truyền thống, bao gồm kê khai ra giấy rồi đem nộp cho cơ thuế quan, tốn các chi phí như in ấn vắng dành cho việc nộp và lưu trữ, thời kì, phí tổn đi lại của mỗi lần nộp bẩm thuế... Thì việc dùng dịch vụ khai thuế điện tử rẻ hơn rất nhiều", ông Tuấn Anh nói. Cùng với Bkav, các doanh nghiệp khác như Viettel-CA, FPT-CA, VNPT-CA..., Cũng đang chạy đua nước rút để đưa dịch vụ ra thị trường. FPT-CA mới đây ban bố chương trình ưu đãi cho khách hàng doanh nghiệp đăng ký sử dụng dịch vụ trong một năm (tổng giá trị 1.639.000 đồng) được tặng ba tháng dùng dịch vụ Chữ ký số FPT-CA, một năm sử dụng miễn phí dịch vụ khai thuế điện tử FPT.ETax và một năm sử dụng miễn phí phần mềm khai thương chính điện tử FPT.ECustoms... Trong khi đó, các doanh nghiệp khác như VNPT-CA, Viettel-CA đã sẵn sàng hạ tầng và dịch vụ cho việc cung cấp chữ ký số cho thông quan điện tử. Hiện Việt Nam đã có chín doanh nghiệp được cấp phép hoạt động, gồm VNPT-CA, CA2, Bkav-CA, Viettel-CA, FPT-CA, CK-CA, Newtel CA, Safe-CA và SmartSign. |
Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013
Cú hích cho thị trường chữ ký số
Giả mạo quyết định tuyển dụng của Văn phòng Chính phủ để lừa đảo
Nạn nhân trước tiên của Yên là chị Đào Thu H., Trú tại xã Nam Trung (Tiền Hải, thăng bình) đang làm việc tại một văn phòng của tổ chức phi chính phủ. Vì muốn xin vào làm công chức Nhà nước nên tháng 1/2013, qua ông Bùi Mạnh Hùng (bạn của bố chị H), gia đình chị H. Đã nhờ Trần Xuân Yên. Yên yêu cầu đưa bộ hồ sơ để anh ta rà soát xem khả năng của chị H thích hợp với công việc nào sẽ bố trí. Khoảng 1 tháng sau, Yên thông tin với gia đình chị H. Là các tiêu chuẩn của chị rất tốt, đủ để vào làm tận…Văn phòng Chính phủ. Ngày 23/3, Yên điện thoại cho ông Hùng lên gặp và đưa cho bản Thông báo số 02 (bản photo có dấu tròn của Văn phòng Chính phủ, có chữ ký của Chủ nhiệm Văn phòng) với nội dung "Văn phòng Chính phủ chấp thuận thu nạp bà Đào Thị H. Về công tác tại cơ quan văn phòng với công việc kế toán kiêm hành chính văn phòng, thời gian nhận quyết định chuyển công tác vào tháng 4/2013". Yên yêu cầu ông Hùng phải đưa tiền thì sẽ đưa thông tin bản gốc. Ngày 25/3, ông Hùng đã nhận 100 triệu đồng của gia đình chị H. Để chuyển cho Yên. Khi nhận tiền, Yên viết giấy biên nhận và "hẹn ngày 27/3 sẽ giao bản chính Thông báo trên và ngày 10/4 nhận Quyết định chính thức". Yên còn khuyến mại thêm cho gia đình một bản photo công chứng Thông báo số 2 (có chữ ký của cán bộ Phòng Tư pháp quận Ba Đình) để biểu thị rằng tờ Thông báo trên là có thật, đúng luật pháp. Ngày 26/3, Yên đề nghị ông Hùng đưa thêm cho 20 triệu đồng để lo công việc. Đến ngày 29/3, Yên lại đòi tiếp 100 triệu đồng nữa mới giao cho ông Hùng một bản photo Quyết định thuyên chuyển công tác (bản photo này cũng có dấu và chữ ký của Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ) với nội dung "Văn phòng Chính phủ tiếp thu bà Đào Thị H. Về công tác tại Văn phòng Chính phủ với công việc kế toán kiêm hành chính văn phòng. Thời gian công tác ngày 5/5/2013". Khi gia đình chị H đề nghị đưa bản gốc thì Yên vòi thêm 50 triệu đồng và hẹn ngày 16/4 sẽ giao bản gốc. Đến ngày 5/5 (ngày đi làm chính thức theo Quyết định do Yên đưa), chị H. Cùng ông Hùng lọ mọ mang bản photo công chứng thông tin số 02 và Quyết định thuyên chuyển công tác đến tận Văn phòng Chính phủ để hỏi thời giờ đi làm. Nhưng họ hết sức ngỡ ngàng khi được các chuyên viên ở đây cho biết: Văn phòng Chính phủ chưa có chỉ tiêu tuyển người. Soát 2 văn bản (photo) do chị H. Đưa, các chuyên viên nghi là làm giả nên đã giữ lại để làm rõ. Dù sự thực đã rành rành như vậy nhưng khi ông Hùng tìm gặp Yên để hỏi, anh ta vẫn lấp liếm, khẳng định các Thông báo và Quyết định trên là thật 100%, nhưng vì là tuyển chỗ quen biết nên phải bí mật, đợi người quen của Yên đi công tác về sẽ trực tiếp sắp xếp công việc cho chị H. Đến ngày 14/5, theo lịch hẹn của Yên, gia đình chị H. Đến tìm thì anh ta đã trốn luôn khỏi địa phương. Cứ vào lời khai của các bị hại và các tài liệu thu thập được, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh thái hoà đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tróc nã đối với Trần Văn Yên. Sau đó, Yên đã bị bắt khi đang lang thang, lẩn trốn ở khu vực huyện Vũ Thư. Theo tìm hiểu của chúng tôi, Trần Xuân Yên chẳng có nghề nghiệp gì, nhưng lại có biệt tài… khoe các mối quan hệ rộng. Theo lời Yên khoe, người quen của anh ta tại thanh bình và trên Hà Nội thân thiết với toàn các cán bộ cỡ… từ cấp tỉnh trở lên, muốn xin vào biên chế chính thức của ngành nào cũng được. Chính vì vậy, nhiều người đã tin mà nhờ vả Yên xin hộ cho con em họ vào biên chế quốc gia. Tính đến thời điểm này, đã có 5 trường hợp bị Yên lường đảo tiền dưới hình thức xin việc. Ngoài chị Đào Thị H., Yên nhận xin cho chị Trần Thị K.D. Vào biên chế thân phụ dạy ngoại ngữ tại Trường Cao Bá Quát tại Gia Lâm (Hà Nội) với giá 150 triệu đồng (đã đưa 50 triệu đồng); chị Đào Thị P., Trú tại huyện Tiền Hải xin vào biên chế tại Bệnh viện Đa khoa Nam Tiền Hải với số tiền 150 triệu đồng (đã đưa 30 triệu đồng); chị Đỗ Thị D. Đang làm việc tại trạm y tế ở một xã thuộc huyện Tiền Hải xin chuyển biên chế làm việc tại Bệnh viện Đông y tỉnh thái hoà với số tiền 70 triệu đồng (đã đưa 30 triệu đồng); chị Bùi Thị D. Biên chế chính thức vào làm việc tại Sở Tài chính tỉnh thăng bình số tiền 180 triệu đồng (đã đưa 70 triệu đồng). Trong các trường hợp này, chỉ có 2 trường hợp (chị Trần Thị K.D. Và Đào Thị H), Yên không trực tiếp làm mà chuẩn y một đối tượng khác ở TP thanh bình, 3 trường hợp còn lại Yên cứ thu tiền nhưng với ý định cướp đoạt chứ không hề có ý định xin việc cho họ. Theo công văn giải đáp của Văn phòng Chính phủ gửi Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Bình, công nhận không nhận được hồ sơ xin việc nào mang tên Đào Thị H, đồng thời Thông báo số 02 đề ngày 22/3/2013 và Quyết định thuyên chuyển công tác ghi của Ban tổ chức Chính phủ ngày 9/42013 với nội dung tiếp thu chị Đào Thị H về công tác tại Văn phòng Chính phủ kể từ ngày 5/5/2014 là giả mạo (về nội dung, chữ ký, con dấu). Hiện cơ quan CSĐT Công an tỉnh thái hoà đã tạm giam đối với Trần Văn Yên về tội lường đảo cướp đoạt tài sản, đồng thời đang khẩn trương mở mang mảng làm giấy má mạo của các đối tượng, nhằm xử lý triệt để hành vi phạm tội của các đối tượng can dự http://www.chukysoviettel.com/ |
Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2013
Hải quan Bình Dương: Phổ biến ích và lịch trình ứng dụng CKS đến cộng đồng DN
Theo Khoản C, Điều 4, Nghị định 87 và Điều 5 Thông tư 196/2012/TT-BTC: Khi thực hiện TTHQĐT, người khai Hải quan phải dùng CKS đã đăng kí với cơ quan Hải quan. Trong thời đoạn chưa có CKS thì được sử dụng account truy nhập Hệ thống xử lí dữ liệu điện tử Hải quan để thực hiện TTHQĐT. Người khai Hải quan có nghĩa vụ bảo mật tài khoản để sử dụng khi giao thiệp với cơ quan thương chính thông qua Hệ thống xử lí dữ liệu điện tử Hải quan và chịu trách nhiệm về các giao dịch điện tử theo quy định của luật pháp. Theo đó, CKS dùng trong TTHQĐT của người khai Hải quan là CKS công cộng đã được cơ quan Hải quan xác nhận tương xứng với Hệ thống xử lí dữ liệu điện tử thương chính. Việc sử dụng CKS và giá trị pháp lí của CKS thực hành theo quy định tại Điều 8 và Điều 12 Nghị định số 26/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật giao dịch điện tử về CKS và dịch vụ chứng nhận CKS. Trước khi dùng CKS để thực hành TTHQĐT, người khai thương chính phải đăng kí CKS với cơ quan thương chính duyệt y Cổng thông báo điện tử thương chính. Các nội dung đăng kí gồm: Tên, mã số thuế của cơ quan, tổ chức XNK hoặc đại lí làm thủ tục thương chính (nếu có); họ và tên, số chứng minh quần chúng. # Hoặc hộ chiếu, chức danh (nếu có) của người được cấp chứng thư số; số nhận dạng CKS (Serial Number); vận hạn hiệu lực của CKS; người khai Hải quan phải đăng kí lại với cơ quan Hải quan các thông báo trong các trường hợp (các thông báo đã đăng kí có sự thay đổi, gia hạn chứng thư số, thay đổi cặp khóa, tạm dừng chứng thư số). Để bảo đảm lịch trình thực hiện CKS, ngoài ráng của cơ quan Hải quan, cộng đồng doanh nghiệp (DN) cũng cần chủ động, nhanh chóng đăng kí CKS với cơ quan Hải quan. Do đó, việc sử dụng CKS trong TTHQĐT là thực hiện đúng quy định của Chính phủ. Đồng thời, việc dùng CKS cũng tăng tính chuẩn xác, chống chối bỏ trong thực hành TTHQĐT, qua đó nâng cao an ninh, an toàn trong giao tiếp giữa DN với cơ quan Hải quan trong môi trường điện tử. Với hoạt động Hải quan, điều này có ý nghĩa khôn cùng quan trọng khi TTHQĐT và sắp tới ngành Hải quan sẽ vận hành thử nghiệm và chuẩn bị áp dụng chính thức Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS… Trong thời kì qua, thực hành theo chỉ đạo chung của Tổng cục thương chính, từ ngày 20/2/2012, Cục Hải quan Bình Dương đã tiến hành thực hành thử nghiệm CKS với 20 DN làm TTHQĐT tại Chi cục Hải quan quản hàng hóa XNK ngoài khu công nghiệp. Sau thời kì thử nghiệm 1 tháng, Cục mở mang triển khai tại các Chi cục còn lại thì đến nay đã có trên 130 DN tham gia, với tổng số tờ khai dùng CKS là trên 80.000 tờ khai. Nhưng con số này vẫn còn khá khiêm tốn so với khoảng 3.000 DN đang làm thủ tục Hải quan tại Bình Dương. Chính cho nên, trong cuộc họp giao ban mới đây, ông Dương Hồng Hạnh - Phó Cục trưởng Cục thương chính Bình Dương đã chỉ đạo: Giao trọng điểm Dữ liệu và Công nghệ thông báo tiến hành nâng cấp hệ thống cộng nghệ thông báo tại đơn vị và có văn bản chỉ dẫn cụ thể, rõ ràng để các Chi cục thương chính trực thuộc thực hiện việc niêm yết công khai tại trụ sở làm việc của Chi cục, tuyên truyền qua website của Cục về việc hướng dẫn DN về cách thức đăng ký, nơi đăng ký, lịch trình vận dụng CKS… để cho DN nắm bắt kịp thời và có kế hoạch chuẩn bị trước. Ngoại giả, phải hối hợp với các công ty phần mềm trên địa bàn tương trợ tối đa cho DN trong việc cài đặt chương trình cần thiết trong hệ thống. Qua đó, bảo đảm 100% DN phải tham gia CKS từ ngày 01/11/2013 theo chỉ đạo của Bộ Tài chính, Tổng cục thương chính… Đồng thời, ông Dương Hồng Hạnh cũng yêu cầu các đơn vị phổ thông rộng rãi tới cán bộ, công chức và đưa nội dung chỉ dẫn việc đăng ký sử dụng chữ ký số trong các buổi đào tạo, tập huấn về hệ thống VNACCS/VCIS sắp tới cho CBCC và DN…
( Lê Xuyền ) |
DN cần chóng vánh đăng kí chữ kí số
Ông Nguyễn Trần Hiệu. Ảnh: T.B. Xin ông cho biết ý nghĩa của việc dùng CKS trong thủ tục thương chính điện tử (TTHQĐT)? Việc dùng CKS được Chính phủ quy định tại Nghị định 26/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật giao tiếp điện tử về CKS và dịch vụ chứng thực CKS; Nghị định 27/2007/NĐ-CP về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính; Nghị định 87/2012/NĐ-CP về thực hiện TTHQĐT. Do đó, việc sử dụng CKS trong TTHQĐT là thực hành đúng quy định của Chính phủ. Song song việc dùng CKS cũng tăng tính xác thực, chống chối bỏ trong thực hiện TTHQĐT, qua đó nâng cao an ninh, an toàn trong giao du giữa DN với cơ quan thương chính trong môi trường điện tử. Với hoạt động thương chính, điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng khi TTHQĐT đã được thực hành chính thức trong khuôn khổ cả nước từ ngày 1-1-2013 và sắp tới ngành thương chính sẽ vận hành thử nghiệm và chuẩn bị vận dụng chính thức Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS. Ngày 18-9-2013, Bộ Tài chính đã ban hành hình định 2341/QĐ-BTC về lộ trình áp dụng CKS. Từ 1-11-2013, CKS được vận dụng chính thức trong TTHQĐT và sử dụng cả trong quá trình vận hành thử nghiệm VNACCS/VCIS. Cơ quan thương chính đã có sự chuẩn bị như thế nào để việc ứng dụng CKS đúng lộ trình? Tổng cục Hải quan đã làm việc với các DN cung cấp dịch vụ CKS công cộng được cấp phép hiện thời ở Việt Nam để bảo đảm CKS của tất tật các DN này kết nối được với hệ thống của cơ quan thương chính. Việc vận dụng CKS cũng được tích hợp vào phần mềm áp dụng và hệ thống xử lí của cơ quan thương chính. Đặc biệt, Tổng cục Hải quan đã hoàn thành việc nâng cấp phần mềm để phục vụ việc triển khai CKS theo quyết định của Bộ Tài chính.
Thưa ông, để dùng CKS trong TTHQĐT, doanh nghiệp cần phải làm gì? Từ nay đến thời điểm áp dụng chính thức không còn nhiều, trước hết DN cần chủ động, nhanh chóng đăng kí CKS với các nhà cung cấp dịch vụ CKS công cộng. Sau khi đăng kí và được cấp CKS, DN sẽ đăng kí CKS đã được cấp với cơ quan Hải quan thông qua Công thông báo điện tử của Tổng cục thương chính www.Customs.Gov.Vn để dùng trong thực hiện TTHQĐT. Việc đăng kí với cơ quan thương chính hoàn toàn miễn phí. Việc DN mau chóng, chủ động đăng kí CKS và dùng thạo trước khi ứng dụng chính thức sẽ hạn chế được được các sơ sót trong quá trình thực hành. Những DN đã sử dụng CKS để giao du đối với cơ quan quản ngại quốc gia khác, thí dụ như cơ thuế quan, cũng hoàn toàn sử dụng được CKS này để giao tiếp với cơ quan Hải quan nhằm kiệm ước uổng vì không phải đăng kí thêm CKS mới với nhà cung cấp dịch vụ chứng nhận CKS. Các DN có thể tùy ý lựa chọn CKS của bất kì nhà cung cấp nào được phép hoạt động ở Việt Nam, bởi hệ thống xử lí của cơ quan thương chính thu nạp được CKS của quờ quạng các nhà cung cấp hiện giờ ở nước ta như đề cập ở trên. Xin cảm ơn ông! thăng bình (thực hiện) |
Thái Sơn nâng cấp phần mềm khai hải quan điện tử lên ECUS5-VNACCS
Nội dung giới thiệu bao gồm: Quy trình nâng cấp phần mềm ECUS phiên bản 4 lên ECUS phiên bản 5 cho nghiệp vụ VNACCS. Bây giờ với số lượng doanh nghiệp đang dùng phần mềm ECUS để khai thương chính điện tử rất lớn (trên 40.000 doanh nghiệp) nên việc nâng cấp cho doanh nghiệp được Công ty Thái Sơn thực hiện theo phương án tự động. Khi đơn vị thương chính nơi doanh nghiệp khai báo chính thức ứng dụng hệ thống VNACCS thì phần mềm ECUS4 doanh nghiệp đang dùng sẽ tự động thông tin cho doanh nghiệp biết và tự động nâng cấp lên phiên bản mới. Sau khi chương trình tự động nâng cấp lên phiên bản ECUS5-VNACCS doanh nghiệp sẽ nhận được tài liệu chỉ dẫn, video chỉ dẫn về nghiệp vụ VNACCS. Đối với loại hình gia công, sản xuất xuất khẩu, chế xuất sau khi nâng cấp lên ECUS5-VNACCS số liệu của doanh nghiệp khai báo trước đây vẫn được giữ nguyên để phục vụ quản lý và thanh khoản. Các số liệu và các tiện ích doanh nghiệp đang dùng trên phiên bản ECUS4 cũ vẫn dùng bình thường trên phiên bản mới ECUS5-VNACCS. Trong các đợt tập huấn này, Công ty Thái Sơn cũng đã có thông tin chính thức về chính sách nâng cấp phần mềm ECUS. Theo đó, các doanh nghiệp giờ đang sử dụng phần mềm ECUS4 theo thông tư 196/2012/TT-BTC sẽ được tự động nâng cấp miễn phí lên phần mềm ECUS5 theo nghiệp vụ VNACCS khi Hải quan chính thức vận dụng mô hình này. Các tính năng nghiệp vụ theo hệ thống VNACCS trên phần mềm ECUS5: Hệ thống phần mềm ECUS5-VNACCS được thiết kế theo nghiệp vụ của VNACCS song song vẫn giữ được lối thiết kế truyền thống của phần mềm ECUS mà doanh nghiệp đã quen sử dụng. Các mã nghiệp vụ được tích hợp sẵn vào trong chương trình, người dùng chỉ cần chọn các nghiệp vụ theo quy trình một cách dễ dàng. Hệ thống phần mềm ECUS5-VNACCS được công ty Thái Sơn thiết kế theo chuẩn của Hệ thống Hải quan điện tử đương đại, đáp ứng đầy đủ các quy trình nghiệp vụ của hệ thống VNACCS/VCIS của cơ quan thương chính do Nhật Bản tài trợ. Hệ thống bao gồm đầy đủ các phân hệ nghiệp vụ: Thông quan hàng hóa tự động (eDeclaration), hệ thống tính sổ điện tử (ePayment), hệ thống một cửa quốc gia (Single window) và hệ thống khai báo tàu biển (eManifest).
Giải pháp trình ký giúp doanh nghiệp giải quyết vấn đề người lập tờ khai Khai thương chính và giám đốc (người quản lý chữ ký số) có kế ký số vào tờ khai từ xa thông quan Internet.
|
Triển khai chữ ký số trong thủ tục Hải quan điện tử
Người khai thương chính sử dụng chữ ký số đã đăng ký với cơ quan thương chính. Ảnh: Báo Hải quan Bộ Tài chính giao Tổng cục Hải quan chịu nghĩa vụ tổ chức chỉ dẫn người khai thương chính thực hành dùng chữ ký số. Trong thời đoạn chưa có chữ ký số thì được dùng trương mục truy nhập hệ thống xử lí dữ liệu điện tử Hải quan để thực hành thủ tục Hải quan điện tử. Người khai thương chính có trách nhiệm bảo mật account để dùng khi giao du với cơ quan thương chính thông qua hệ thống và chịu trách nhiệm về các giao du điện tử theo quy định của luật pháp. Chữ ký số đã đăng ký của người khai thương chính sẽ được dùng để thực hiện thủ tục thương chính điện tử trên phạm vi toàn quốc. Đình Hải |
Từ 1-11, khai triển chữ kí số trong TTHQĐT
Hoạt động nghiệp vụ tại thương chính Quảng Ninh- một trong những đơn vị thực hành hiệu quả TTHQĐT. Ảnh: T.B. Theo đó, việc dùng CKS trong TTHQĐT được thực hiện theo quy định tại Nghị định 87/2012/NĐ-CP và Thông tư 196/2012/TT-BTC. Bộ Tài chính giao Tổng cục thương chính chịu nghĩa vụ tổ chức chỉ dẫn người khai thương chính thực hành. Theo Khoản C, Điều 4, Nghị định 87: Khi thực hành TTHQĐT, người khai thương chính phải sử dụng CKS đã đăng kí với cơ quan thương chính. Trong thời đoạn chưa có CKS thì được sử dụng tài khoản truy nhập Hệ thống xử lí dữ liệu điện tử Hải quan để thực hành TTHQĐT. Người khai thương chính có nghĩa vụ bảo mật tài khoản để sử dụng khi giao dịch với cơ quan thương chính phê chuẩn Hệ thống xử lí dữ liệu điện tử Hải quan và chịu nghĩa vụ về các giao thiệp điện tử theo quy định của pháp luật. Bộ Tài chính quy định lịch trình vận dụng CKS khi thực hành TTHQĐT. Thông tư 196 quy định: CKS dùng trong TTHQĐT của người khai thương chính là CKS công cộng đã được cơ quan thương chính công nhận xứng với Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử thương chính. Danh sách các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực CKS công cộng cung cấp CKS tương thích với Hệ thống xử lí dữ liệu điện tử Hải quan được đăng trên Cổng thông báo điện tử thương chính (địa chỉ: http://www.Customs.Gov.Vn). Việc sử dụng CKS và giá trị pháp lí của CKS thực hiện theo quy định tại Điều 8 và Điều 12 Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15-2-2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật giao thiệp điện tử về CKS và dịch vụ chứng nhận CKS. Trước khi dùng CKS để thực hành TTHQĐT, người khai thương chính phải đăng kí CKS với cơ quan Hải quan thông qua Cổng thông báo điện tử Hải quan. Các nội dung đăng ký gồm: Tên, mã số thuế của cơ quan, tổ chức XNK hoặc đại lí làm thủ tục Hải quan (nếu có); họ và tên, số chứng minh quần chúng. # Hoặc hộ chiếu, chức danh (nếu có) của người được cấp chứng thư số; số nhận dạng CKS (Serial Number); vận hạn hiệu lực của CKS. Người khai thương chính phải đăng kí lại với cơ quan thương chính các thông báo nêu trên trong các trường hợp sau: Các thông báo đã đăng kí có sự thay đổi, gia hạn chứng thư số, thay đổi cặp khóa, tạm dừng chứng thư số. Không quá 2 phút kể từ thời điểm chấm dứt việc đăng kí, chuẩn y Cổng thông tin điện tử thương chính, cơ quan thương chính trả lời ưng hoặc khước từ (có nêu rõ lí do) CKS của người khai thương chính. CKS đã đăng kí của người khai thương chính được dùng để thực hiện TTHQĐT trên khuôn khổ toàn quốc. Trước đó, từ ngày 1-1-2013, khi thực hành chính thức TTHQĐT theo Nghị định 87, việc thể nghiệm dùng CKS trong TTHQĐT được tạm dừng. Lãnh đạo Cục CNTT&Thống kê Hải quan (Tổng cục Hải quan) cho biết, lí do tạm dừng dùng CKS do Tổng cục thương chính đang thực hiện việc nâng cấp, hoàn thiện để phục vụ cho việc khai triển chính thức trên phạm vi cả nước theo lộ trình được Chính phủ, Bộ Tài chính đặt ra. Cũng theo vị lãnh đạo này, với những doanh nghiệp đã được cấp CKS sẽ đấu sử dụng để thực hiện khi ngành thương chính vận dụng trở lại. Đặc biệt, với những doanh nghiệp đang sử dụng CKS có hiệu lực trên toàn quốc cũng song song sử dụng được CKS này để khai báo thương chính và các chứng từ khác với quờ quạng các đơn vị Hải quan trên khuôn khổ cả nước. Theo Cục CNTT&Thống kê thương chính, hiện hệ thống CNTT của cơ quan thương chính cho phép thu nạp CKS của hết thảy các nhà cung cấp dịch vụ này (đã được Bộ thông tin và Truyền thông cấp phép hoạt động ở Việt Nam). Tuy nhiên, đại diện Cục CNTT&Thống kê Hải quan cảnh báo những cá nhân được giao quản lí CKS của các doanh nghiệp cần phải nêu cao ý thức trách nhiệm trong việc bảo quản, dùng, tránh trường hợp để thất lạc hoặc cho người khác sử dụng thay sẽ dễ gây ra nhiều hệ lụy. Trường hợp bị mất hoặc có sự đổi thay khác cần phải thông tin ngay với cơ quan thương chính để có biện pháp ngăn chặn kịp thời. Với người sử dụng CKS cũng cần được đào tạo nhất mực để sử dụng thạo, hiệu quả… Như vậy, với quyết định vừa được Bộ Tài chính ban hành, việc sử dụng CKS trong TTHQĐT sẽ được thực hành trở lại từ ngày 1-1-2013. Theo đại diện Cục CNTT&Thống kê thương chính, đơn vị sẽ gấp rút có chỉ dẫn cho doanh nghiệp và cơ quan Hải quan địa phương thực hiện quyết định này của Bộ Tài chính. N.Quốc |
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

