Thứ Tư, 24 tháng 9, 2014

Điều kiện khấu trừ thuế GTGT theo luật thuế mới nhất

Điều kiện khấu trừ thuế GTGT theo luật thuế mới nhất

khấu trừ thuế GTGT theo luật thuế mới nhất
Khấu trừ thuế GTGT

1. Có hoá đơn giá trị gia tăng hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.

 2. Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hoá nhập khẩu) từ hai mươi triệu đồng trở lên, trừ trường hợp tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT.điều kiện khấu trừ thuế gtgt đầu vào

3. Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán (tài khoản của bên mua và tài khoản của bên bán phải là tài khoản đã đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế) mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành như séc, uỷ nhiệm chi hoặc lệnh chi, uỷ nhiệm thu, nhờ thu, thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng, sim điện thoại (ví điện tử) và các hình thức thanh toán khác theo quy định.

a) Các chứng từ bên mua nộp tiền mặt vào tài khoản của bên bán hoặc chứng từ thanh toán theo các hình thức không phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành không đủ điều kiện để được khấu trừ, hoàn thuế GTGT đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào từ hai mươi triệu đồng trở lên.

b) Hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn từ hai mươi triệu đồng trở lên theo giá đã có thuế GTGT nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì không được khấu trừ. Đối với những hoá đơn này, cơ sở kinh doanh kê khai vào mục hàng hoá, dịch vụ không đủ điều kiện khấu trừ trong bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá, dịch vụ mua vào.

c) Đối với hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hoá, dịch vụ mua từ hai mươi triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hoá, dịch vụ bằng văn bản, hoá đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán qua ngân hàng của hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào, đồng thời ghi rõ thời hạn thanh toán vào phần ghi chú trên bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá, dịch vụ mua vào. Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc trước ngày 31 tháng 12 hàng năm đối với trường hợp thời điểm thanh toán theo hợp đồng sớm hơn ngày 31 tháng 12, cơ sở kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

Đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc đến ngày 31 tháng 12 hàng năm đối với trường hợp thời điểm thanh toán theo hợp đồng sớm hơn ngày 31 tháng 12, nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ của giá trị hàng hoá không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Sau khi cơ sở kinh doanh đã điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ tương ứng với giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng, cơ sở kinh doanh mới có được chứng từ chứng minh việc thanh toán qua ngân hàng thì cơ sở kinh doanh được khai bổ sung.

Trường hợp đã quá hạn thanh toán chậm trả theo quy định trong hợp đồng hoặc đến ngày 31 tháng 12 hàng năm, cơ sở kinh doanh không thực hiện điều chỉnh giảm theo quy định nhưng trước khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền công bố quyết định kiểm tra tại trụ sở, cơ sở kinh doanh có đầy đủ chứng từ chứng minh đã thanh toán qua ngân hàng thì nếu việc không điều chỉnh giảm không dẫn đến thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn thì cơ sở kinh doanh bị xử phạt vi phạm về thủ tục thuế, nếu việc không điều chỉnh giảm dẫn đến thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn thì cơ sở kinh doanh bị truy thu, truy hoàn và xử phạt theo quy định của Luật Quản lý thuế.

Trường hợp cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra, thanh tra tại trụ sở và có quyết định xử lý không chấp nhận cho khấu trừ thuế đối với các hóa đơn GTGT không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng, sau khi có quyết định xử lý của cơ quan thuế cơ sở kinh doanh mới có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì:

- Đối với các hóa đơn GTGT cơ sở kinh doanh đã điều chỉnh giảm trước khi cơ quan thuế đến thanh tra, kiểm tra thì cơ sở kinh doanh được khai bổ sung thuế GTGT.

- Đối với các hóa đơn GTGT cơ sở kinh doanh đã không điều chỉnh giảm trước khi cơ quan thuế đến thanh tra, kiểm tra thì cơ sở kinh doanh được khai bổ sung nếu có chứng từ thanh toán qua ngân hàng trong thời hạn 6 tháng kể từ tháng có Quyết định xử lý của cơ quan thuế.

Ví dụ

Trong năm 2014, Công ty TNHH Đức Minh có phát sinh các hóa đơn GTGT mua hàng theo hợp đồng trả chậm như sau:

- Hóa đơn GTGT mua hàng tháng 3/2014, thời hạn thanh toán là ngày 20/9/2014.

- Hóa đơn GTGT mua hàng tháng 4/2014, thời hạn thanh toán là ngày 20/10/2014.

- Hóa đơn GTGT mua hàng tháng 5/2014, thời hạn thanh toán là ngày 20/11/2014.

- Hóa đơn GTGT mua hàng tháng 6/2014, thời hạn thanh toán là ngày 20/12/2014.

Công ty TNHH Đức Minh đã kê khai khấu trừ thuế GTGT khi nhận được hóa đơn GTGT mua hàng. Đến thời điểm thanh toán theo các hợp đồng, Công ty TNHH Đức Minh chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng, Công ty TNHH Đức Minh được lựa chọn kê khai điều chỉnh giảm theo từng hóa đơn hoặc đến ngày 31/12/2014, Công ty TNHH Đức Minhvẫn chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì trong kỳ kê khai thuế tháng 12/2014, Công ty TNHH Đức Minh thực hiện tổng hợp kê khai điều chỉnh giảm cho tất cả 4 hóa đơn GTGT mua hàng nói trên theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

4. Các trường hợp thanh toán không dùng tiền mặt khác để khấu trừ thuế GTGT đầu vào gồm:

a) Trường hợp hàng hoá, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hoá, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng, phải có biên bản đối chiếu số liệu và xác nhận giữa hai bên về việc thanh toán bù.

b) Trường hợp hàng hoá, dịch vụ mua vào theo phương thức bù trừ công nợ như vay, mượn tiền; cấn trừ công nợ qua người thứ ba mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có hợp đồng vay, mượn tiền dưới hình thức văn bản được lập trước đó và có chứng từ chuyển tiền từ tài khoản của bên cho vay sang tài khoản của bên đi vay đối với khoản vay bằng tiền.

c) Trường hợp hàng hoá, dịch vụ mua vào được thanh toán uỷ quyền qua bên thứ ba thanh toán qua ngân hàng (bao gồm cả trường hợp bên bán yêu cầu bên mua thanh toán tiền qua ngân hàng cho bên thứ ba do bên bán chỉ định) thì việc thanh toán theo uỷ quyền hoặc thanh toán cho bên thứ ba theo chỉ định của bên bán phải được quy định cụ thể trong hợp đồng dưới hình thức văn bản và bên thứ ba là một pháp nhân hoặc thể nhân đang hoạt động theo quy định của pháp luật.

d) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán qua ngân hàng vào tài khoản của bên thứ ba mở tại Kho bạc Nhà nước để thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ (theo Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) thì cũng được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

 Theo ketoanducminh

Thông tư số 83/2012/TT-BTC

Ngày 23/05/2012, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 83/2012/TT-BTC hướng dẫn thực hiện việc miễn, giảm, gia hạn một số khoản thu ngân sách Nhà nước theo Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường. 
thông tư số 83/2012/TT-BTC
Thông tư 83/2012/TT-BTC

Có một số hướng dẫn cần lưu ý trong Thông tư như sau:

1. Gia hạn nộp thuế giá trị gia tăng: 

Gia hạn 06 tháng thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT) của tháng 4, tháng 5, tháng 6 năm 2012 (không bao gồm thuế GTGT ở khâu nhập khẩu) đối với các doanh nghiệp (DN) đang thực hiện nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuộc các đối tượng sau:

- DN nhỏ và vừa, bao gồm cả hợp tác xã (sau đây gọi chung là DN nhỏ và vừa), không bao gồm DN nhỏ và vừa kinh doanh trong các lĩnh vực: xổ số, chứng khoán, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, sản xuất hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và DN được xếp hạng 1, hạng đặc biệt thuộc các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty.

- DN trong lĩnh vực sản xuất, gia công, chế biến: nông sản, lâm sản, thuỷ sản, dệt may, da giày, linh kiện điện tử; xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội có sử dụng nhiều lao động.

 2. Gia hạn nộp thuế thu nhập DN:

- Gia hạn 9 tháng thời hạn nộp thuế thu nhập DN đối với số thuế thu nhập DN phải nộp của năm 2010 trở về trước mà đến ngày 10/5/2012 DN chưa nộp Ngân sách Nhà nước của các DN thuộc nhóm 1 và 2 nêu trên.

- DN sản xuất sản phẩm cơ khí là tư liệu sản xuất, vận tải đường thủy (bao gồm cả vận tải thủy nội địa và vận tải biển), sản xuất thép, xi măng; DN nhỏ và vừa trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản.

3. Giảm tiền thuê đất: 

Thông tư cũng hướng dẫn giảm 50% tiền thuê đất phải nộp của năm 2012 đối với các tổ chức kinh tế, DN hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ đang được nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm mà đơn giá thuê đất được áp dụng theo quy định tại Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 03 ngày 12 năm 2010 của Chính phủ. Cơ chế giảm được thực hiện theo quy định tại Quyết định số 2093/QĐ-TTg ngày 23 tháng 11 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ.

Ngoài ra, Thông tư 83 của Bộ Tài chính cũng hướng dẫn về việc miễn thuế môn bài đối với hộ đánh bắt hải sản và hộ sản xuất muối, gia hạn nộp tiền sử dụng đất.

Thông tư có hiệu lực kể từ ngày ký.
Theo ketoanducminh

Thứ Ba, 23 tháng 9, 2014

Miễn thuế nhập khẩu linh kiện y tế

Theo quy định tại Quyết định 54/2014/QĐ-TTg, hàng hóa là linh kiện nhập khẩu cho dự án đầu tư để sản xuất, lắp ráp sản phẩm trang thiết bị y tế cần được ưu tiên nghiên cứu, chế tạo được miễn thuế nhập khẩu trong thời hạn 5 năm kể từ ngày dự án bắt đầu sản xuất, lắp ráp trang thiết bị y tế.


Hàng hóa được miễn thuế nhập khẩu theo quy định trên phải là linh kiện nhập khẩu để sản xuất, lắp ráp trang thiết bị y tế cần được ưu tiên nghiên cứu, chế tạo của các dự án đầu tư được ưu tiên nghiên cứu, chế tạo theo quy định; và là linh kiện thuộc loại trong nước chưa sản xuất được.

Các dự án đầu tư sản xuất sản phẩm trang thiết bị y tế cần được ưu tiên nghiên cứu, chế tạo theo Quyết định này gồm các Dự án đầu tư sản xuất: hệ thống chụp mạch; chụp cộng hưởng từ, chụp cắt lớp vi tính máy siêu âm, máy siêu âm doppler xuyên sọ; hệ thống nội soi phẫu thuật; máy điện trị liệu; máy thở; máy phân tích sinh hóa bán tự động...

Quy định trên có hiệu lực từ ngày 15/11/2014.

 Theo chinhphu.vn

Cách xác định thu nhập chịu thuế đối với cá nhân nhận thu nhập NET

Nhằm giúp các doanh nghiệp đang gặp vướng mắc trong việc áp dụng chính sách tiền thuế, tiền nhà giả định khi xác định thu nhập chịu thuế TNCN, ngày 06/9/2014, Bộ Tài chính ban hành công văn số 12495/BTC-TCT hướng dẫn chính sách thuế TNCN đối với tiền thuế giả định, tiền nhà giả định.
Cách xác định thu nhập chịu thuế
Tính thu nhập chịu thuế

Theo đó, Bộ Tài chính căn cứ vào khoản 4, điều 7, Thông tư số 111/2013/TT-BTC hướng dẫn việc quy đổi để xác định thu nhập chịu thuế đối với tiền thuế, tiền nhà giả định. Cụ thể như sau:

Đối với tiền thuế giả định thì khi doanh nghiệp thực hiện chính sách cân bằng thuế có khấu trừ thuế giả định trước khi trả thu nhập cho người lao động và nộp thay thuế TNCN theo thực tế phát sinh cho người lao động thì thu nhập làm căn cứ để quy đổi thành thu nhập tính thuế không gồm thuế giả định đã khấu trừ. Sau khi tính số thuế thực tế phải nộp tại Việt Nam, doanh nghiệp thực hiện thanh toán cân bằng thuế, nếu có phát sinh khấu trừ thêm thuế giả định hoặc hoàn lại số thuế giả định đã khấu trừ thì tính giảm hoặc tăng thu nhập làm căn cứ quy đổi (thu nhập không gồm tiền thuế giả định) của người lao động tại thời điểm nhận được khoản tiền chênh lệch để xác định thu nhập chịu thuế TNCN.

Đối với tiền nhà giả định thì khi doanh nghiệp thực hiện chính sách tiền nhà giả định (khấu trừ tiền nhà giả định trước khi trả thu nhập và trả tiền nhà thực tế phát sinh cho người lao động) thì thu nhập làm căn cứ để quy đổi thành thu nhập tính thuế không gồm tiền nhà giả định đã khấu trừ. Việc xác định tiền nhà tính vào thu nhập làm căn cứ quy đổi thành thu nhập tính thuế bằng tiền nhà thực tế phát sinh nhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế (không gồm tiền thuê nhà thực tế phát sinh và tiền nhà giả định).

Tuy nhiên, trong trường hợp doanh nghiệp đồng thời thực hiện khấu trừ tiền thuế giả định, tiền nhà giả định và trả tiền nhà, tiền thuế TNCN thực tế phát sinh tại Việt Nam thì thu nhập làm căn cứ để quy đổi thành thu nhập tính thuế không gồm loại tiền giả định đã khấu trừ. Việc xác định tiền nhà tính vào thu nhập làm căn cứ quy đổi thành thu nhập tính thuế bằng tiền nhà thực tế phát sinh nhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế (không gồm tiền thuế giả định, tiền nhà giả định, tiền nhà thực tế phát sinh).

Theo TCT

Thứ Sáu, 12 tháng 9, 2014

Doanh nghiệp “chấm điểm” cán bộ thuế

Xây dựng cơ chế để người nộp thuế chấm điểm, cơ quan Thuế sẽ ngăn chặn nạn tiêu cực, cửa quyền của bộ phận cán bộ thuế. Điều này còn thể hiện quan điểm cơ quan Nhà nước cung cấp dịch vụ công đồng hành với sự phát triển. 

TS. Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban Pháp chế VCCI - đơn vị hỗ trợ Tổng cục Thuế triển khai Đề án đánh giá sự hài lòng của người nộp thuế nói với PV Báo Hải quan: Muốn cải thiện dịch vụ công trong lĩnh vực thuế, để đánh giá được chất lượng phục vụ, điều quan trọng là phải biết người đang sử dụng dịch vụ; người thụ hưởng chất lượng phục vụ, đánh giá như thế nào, cảm nhận và kỳ vọng ra sao. Theo ông Tuấn, các thủ tục hành chính thuế đang tác động đến tất cả cộng đồng DN, ở tất cả các thời điểm khác nhau. 

Bất cứ một DN nào đang tồn tại, đang hoạt động đều phải đối mặt với thủ tục hành chính thuế. Trong khi đó, từng cán bộ thuế có thể có những quyết định, tác động mạnh mẽ đến hoạt động và thậm chí có thể ảnh hưởng đến sự tồn tại của DN. Cho nên, các DN thường e ngại trong việc nêu ý kiến phản ánh về những tồn tại, khó khăn, vướng mắc hay phiền hà từ các cơ quan Thuế. Vì vậy, cần có cơ chế đánh giá, chấm điểm một cách độc lập và khách quan. Ông Tuấn cho biết, hiện nay, VCCI và Tổng cục Thuế đang chuẩn bị hoàn tất việc xây dựng bộ chỉ số để đánh giá. Bộ chỉ số này được xây dựng dựa trên các tiêu chí của Tuyên ngôn ngành Thuế: Minh bạch, Chuyên nghiệp, Liêm chính và Đổi mới. Các tiêu chí này phải cân đo đong đếm được thông qua việc minh bạch chính sách thuế, minh bạch công tác quản lý thuế; công khai đầy đủ, rõ ràng tất cả thủ tục hành chính thuế từ Trung ương đến địa phương… Đồng thời cũng phải cân đo đong đếm được cả các tiêu chí đánh giá năng lực chuyên nghiệp của đội ngũ CBCC thuế như: Kiến thức chuyên môn, đạo đức, văn hoá công sở, kỹ năng làm việc… 
Doanh nghiệp chấm điểm cán bộ thuế
Doanh nghiệp chấm điểm cán bộ thuế
Theo kế hoạch, định kỳ ngành Thuế sẽ thông qua VCCI lấy ý kiến của các DN đánh giá về thái độ phục vụ của cán bộ thuế tại 63 tỉnh, thành phố. Đối với người dân sẽ thông qua thư điện tử, các kênh phương tiện truyền thông khác nhau để lấy ý kiến. Mục đích của cơ quan Thuế là nắm bắt kịp thời những kiến nghị, phản ánh của người nộp thuế nhằm chấn chỉnh kỷ cương kỷ luật, cũng như có chế tài xử lý đối với những công chức thuế gây nhũng nhiễu, phiền hà cho người nộp thuế trong quá trình thực thi công vụ. Xây dựng cơ chế để người nộp thuế chấm điểm, cơ quan Thuế sẽ ngăn chặn nạn tiêu cực, cửa quyền của bộ phận CBCC thuế. Điều này còn thể hiện quan điểm cơ quan Nhà nước cung cấp dịch vụ công đồng hành với sự phát triển. 

Theo đó, Tổng cục Thuế đang khẩn trương sửa đổi bổ sung các thông tư về thuế GTGT, TNDN, TNCN...; tiến hành xây dựng thông tư đơn giản hoá thủ tục đăng ký, cấp mã số thuế, kê khai, mua hoá đơn, nộp thuế, nhằm đơn giản hoá thủ tục hành chính, giảm số giờ và số lần thực hiện nghĩa vụ thuế cho DN. Phấn đấu 100% DN kê khai thuế qua mạng; triển khai thực hiện đề án nộp thuế điện tử tại 18/63 địa phương... Tổng cục Thuế đã xác định rõ trách nhiệm người đứng đầu cơ quan thuế các cấp, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cấp quản lý, đồng thời chỉ rõ những ràng buộc về đánh giá chất lượng công việc và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng cá nhân, tổ chức trong cơ quan thuế. Tổng cục Thuế phấn đấu ngay trong năm 2014 sẽ giảm thời gian thực hiện thủ tục khai thuế, nộp thuế xuống còn không quá 300 giờ/năm, giảm số lần nộp thuế xuống tối thiểu bằng với mức trung bình của các nước trong khu vực.
Theo Chinhphu.vn

Từ tháng 10, ngành Thuế không nhận tờ khai thuế bằng giấy

Đó là thông tin mà bà Ngô Thị Kim Vui, Phó cục trưởng Cục Thuế Phú Yên thông báo tại buổi tập huấn khai thuế qua mạng và triển khai Thông tư 119/2014/TT-BTC về cải cách thủ tục hành chính thuế diễn ra vào sáng 11/9 với sự tham gia của 120 doanh nghiệp thuộc quản lý của Cục Thuế tỉnh.
không nhận tờ khai thuế bằng giấy
Từ tháng 10 không nhận tờ khai thuế bằng giấy
Theo bà Vui, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài chính về chủ trương cải cách thủ tục hành chính và hiện đại hóa công tác quản lý thuế, ngành Thuế sẽ mở rộng dịch vụ khai thuế qua mạng cho 100% doanh nghiệp trong tỉnh. Kể từ ngày 1/10/2014, ngành Thuế Phú Yên sẽ không tiếp nhận tờ khai thuế bằng giấy; các doanh nghiệp đều phải thực hiện khai thuế qua mạng, tiến tới nộp thuế điện tử vào năm 2015. Để giúp các doanh nghiệp khai thuế qua mạng thuận lợi, tại buổi tập huấn, cơ quan thuế đã hướng dẫn doanh nghiệp đăng ký sử dụng chữ ký số, kết xuất, tra cứu tờ khai gửi qua mạng theo định dạng XML; đăng ký nộp thuế điện tử; lập giấy nộp tiền, tra cứu thông tin chứng từ điện tử… Các doanh nghiệp còn được phổ biến những điểm mới đáng lưu ý của Thông tư số 119/2014/TT-BTC hướng dẫn sửa đổi, bổ sung về nội dung và mẫu biểu của 7 thông tư mà Bộ Tài chính đã ban hành. Sáng nay (12/9), Cục Thuế Phú Yên tiếp tục tập huấn những nội dung trên cho 160 doanh nghiệp đã thực hiện khai thuế qua mạng.
Theo Baophuyen

Thứ Tư, 10 tháng 9, 2014

Sử dụng chữ ký số Viettel tiết kiệm chi phí

Khoản ngân sách để doanh nghiệp sử dụng chữ ký số chưa tới 3 triệu đồng/5 năm, trong khi chỉ riêng chi phí văn phòng, bảo hiểm, tiền ăn trưa cho một nhân viên làm công việc tay chân cùng đơn vị là 3 triệu đồng/tháng. Con số này khiến nhiều doanh nghiệp giật mình.
Viettel CA
Viettel CA là nhà cung cấp Chữ ký số hàng đầu Việt Nam
Trong nhiều năm qua, cơ quan quản lý và các tổ chức, hiệp hội đồng tâm hiệp lực kêu gọi doanh nghiệp đẩy mạnh ứng dụng chữ ký số vào hoạt động sản xuất - kinh doanh, cũng như trong các hoạt động giao dịch giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giao tiếp giữa doanh nghiệp với chính các cơ quan quản lý.

“Truyền thông là thế nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn bỏ ngoài tai với nhiều lý do và kêu ca đổ lỗi cho cơ quan quản lý”, một đại diện của VCCI chia sẻ.

Giảm chi phí cho doanh nghiệp nhờ 'ấn' nút

Để minh chứng, vị quan chức này dẫn chứng, dịch vụ chứng thực chữ ký số như của Viettel-CA có gói chứng thư số cơ bản CA-2 khai báo thuế, kê khai hải quan điện tử; ký email, văn bản điện tử là 900.000 đồng/năm. Như vậy, chi phí trọn gói sử dụng dịch vụ chữ ký số cho một doanh nghiệp vừa và nhỏ là chưa đầy 1 triệu/năm.

“Với mức chi phí trên, tôi không hiểu tại sao một số doanh nghiệp vẫn còn băn khoăn và nghi ngại không sử dụng dịch vụ chứng thực chữ ký số suốt thời gian qua dù số lượng có tăng.

Trong khi đó nếu thuê tối thiểu một nhân viên để đảm nhiệm những công việc trên, mức lương ít nhất cũng 4 triệu đồng/tháng, chưa kể các khoản khác (văn phòng, bảo hiểm, tiền ăn…) phải chi thêm khoảng 3 triệu đồng/tháng)- như vậy bản thân doanh nghiệp đã đánh mất cơ hội để “thả con săn sắt, bắt con cá rô”.

Đại diện Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính) cho rằng, ngoài việc tiết kiệm thời gian, chi phí, các doanh nghiệp còn có thể quản lý các tờ khai hải quan, thuế của mình một cách dễ dàng thông qua việc tra cứu các thông tin trên mạng và nhận được các thông báo trực tiếp của cơ quan thuế.

Theo tính toán, với việc Bộ Tài chính đang nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin cho lĩnh vực thuế, hải quan, thì nếu doanh nghiệp sử dụng chữ ký số có thể tiết giảm tới 3 nhân viên để thực hiện kê khai thuế, hải quan. Như vậy, với mức lương và chi phí bình quân là 7 triệu đồng/người, một doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tiết kiệm gần 250 triệu đồng/năm.

“Để doanh nghiệp tiếp cận gần hơn với dịch vụ, mới đây Viettel tổ chức chương trình khuyến mại cho các doanh nghiệp đăng ký sử dụng mới dịch vụ chữ ký số Viettel- CA. Chúng tôi đã truyền thông tốt và nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của doanh nghiệp. Số lượng các đơn vị đăng ký tăng mạnh cho thấy, nếu doanh nghiệp được tư vấn và hướng dẫn thủ tục chi tiết, họ cũng sẽ dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ công nghệ thông tin. Hy vọng, trong thời gian tới, các doanh nghiệp sẽ nhìn nhận rõ hơn giữa chi phí sử dụng chữ ký số với chi phí sử dụng con người cho cùng một công việc”.

Theo thống kê, sau gần 4 năm cung cấp dịch vụ Viettel- CA đã có hơn 70.000 khách hàng sử dụng, giúp Viettel trở thành thành đơn vị cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số hàng đầu tại Việt Nam.