Hiển thị các bài đăng có nhãn thuế doanh nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thuế doanh nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 10 tháng 10, 2013

Hướng dẫn về thời hạn nộp thuế và bảo lãnh thuế

Thông tư số 128/2013/TT-BTC hướng dẫn cụ thể quy định để doanh nghiệp (DN) được hưởng ân hạn thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK) và điều kiện để được bảo lãnh số tiền thuế phải nộp. 


Theo Điều 20 Thông tư số 128/2013/TT-BTC (Thông tư số 128), đối với hàng hóa nhập khẩu (NK) là nguyên liệu, vật tư để sản xuất hàng xuất khẩu (SXXK), để được áp dụng thời hạn nộp thuế 275 ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan, người nộp thuế phải đáp ứng đủ các điều kiện sau: 


+ Phải có cơ sở sản xuất thuộc sở hữu của người nộp thuế, không phải cơ sở đi thuê trên lãnh thổ Việt Nam phù hợp với nguyên liệu, vật tư NK để sản xuất hàng hóa xuất khẩu;

+ Có hoạt động XK, NK trong thời gian ít nhất 02 năm liên tục tính đến ngày đăng ký tờ khai hải quan cho lô hàng nguyên liệu, vật tư NK để sản xuất hàng hóa xuất khẩu và trong 02 năm đó được cơ quan Hải quan xác định là không bị xử lý về hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và không bị xử lý về hành vi trốn thuế, gian lận thương mại.

+ Không nợ tiền thuế quá hạn, tiền chậm nộp, tiền phạt đối với hàng hóa XK, NK tại thời điểm đăng ký tờ khai.

+ Không bị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm trong lĩnh vực kế toán trong 02 năm liên tục tính từ ngày đăng ký tờ khai hải quan trở về trước.

+ Phải thực hiện thanh toán qua ngân hàng đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để SXXK.

Trường hợp không đáp ứng đủ các điều kiện trên, nhưng được tổ chức tín dụng bảo lãnh số thuế phải nộp thì vẫn được áp dụng thời hạn nộp thuế tối đa không quá 275 ngày và không phải nộp tiền chậm nộp trong thời hạn bảo lãnh.

Theo quy định tại Điều 21 Thông tư số 128, cơ quan Hải quan chấp nhận áp dụng bảo lãnh nếu người nộp thuế đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

+ Có vốn chủ sở hữu 10 tỷ đồng trở lên (theo báo cáo tài chính của năm trước liền kề năm đăng ký tờ khai hải quan), có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu tối thiểu 365 ngày tính đến ngày đăng ký tờ khai hải quan cho lô hàng XK, NK.

Trong thời gian 365 ngày trở về trước, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan cho lô hàng XK, NK được cơ quan Hải quan xác định là không có trong danh sách đã bị xử lý về hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới của cơ quan hải quan; không có trong danh sách đã bị xử lý về hành vi trốn thuế, gian lận thuế của cơ quan hải quan; không quá 02 lần bị xử lý về các hành vi vi phạm khác về hải quan (bao gồm cả hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn, không thu) với mức phạt tiền vượt thẩm quyền của Chi cục trưởng Chi cục hải quan theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

+ Không có trong danh sách còn nợ tiền thuế quá hạn, tiền chậm nộp, tiền phạt tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan.

Khi làm thủ tục cho lô hàng XK, NK, nếu thực hiện bảo lãnh người nộp thuế nộp Thư bảo lãnh của tổ chức tín dụng nhận bảo lãnh cho cơ quan Hải quan.

Thư bảo lãnh của tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng ghi rõ số tiền thuế thực hiện bảo lãnh, thời hạn bảo lãnh, cam kết với cơ quan Hải quan liên quan về việc bảo đảm khả năng thực hiện và chịu trách nhiệm nộp đủ tiền thuế và tiền chậm nộp thay cho người nộp thuế khi hết thời hạn bảo lãnh nhưng người nộp thuế chưa nộp thuế.
 -Theo viettel.ca-

Quyết liệt với những hành vi gian lận thuế

Kinh tế suy thoái, đình trệ dẫn đến hàng chục ngàn doanh nghiệp (DN) phải ngừng hoạt động hoặc giải thể. Đó là một trong những nguyên nhân khiến ngân sách nhà nước (NSNN) bị hụt thu. 
Tuy nhiên, bên cạnh những nguyên nhân khách quan, thực trạng chây ỳ, nợ đọng thuế, đặc biệt là âm mưu chuyển giá, trốn thuế của nhiều DN lớn đang khiến nguồn thu của nhà nước bị thất thoát nặng nề.



Hụt thu nghiêm trọng 
Theo báo cáo của Tổng cục Thuế, tình hình thu NSNN tháng 8/2013 ước đạt 38.100 tỷ đồng, bằng 5,9% so với dự toán. Kết quả thu 9 tháng đầu năm ước đạt 390.712 tỷ đồng, bằng 60,6% so với dự toán. 
Theo nhận định của một cán bộ ngành Tài chính, thời điểm này hàng năm, thu ngân sách phải đạt được tiến độ 80% thậm chí hơn 85% kế hoạch. Vậy nhưng, năm nay, kế hoạch thu chỉ đạt mức nhích hơn 60% một chút, cho thấy, ngân sách năm nay bị hụt thu nặng nề.
Đánh giá về nguyên nhân gây nên thực trạng này, nhiều ý kiến cho rằng, là do suy thoái kinh tế, sức mua yếu, tồn kho nhiều, các DN sản xuất, kinh doanh trên cả nước đều gặp khó khăn cả đầu vào lẫn đầu ra. Đầu vào chịu ảnh hưởng của lãi suất khi lãi suất cho vay của các ngân hàng tuy có giảm, nhưng vẫn còn quá cao từ 11% -13%/năm. Trong khi đó, thị trường tiêu thụ trong hầu hết các mặt hàng đều đã chững lại cả ở nội địa và quốc tế.
Tuy nhiên, không thể không nhận thấy, một trong những nguyên nhân hàng đầu của thực trạng này phải kể đến những thủ đoạn của nhiều DN trong việc cố tìm mọi cách để trốn thuế. Điển hình là chiêu trò chuyển giá trốn thuế của những DN tầm cỡ "ông lớn” có vốn đầu tư nước ngoài.
Là một đại gia trong thị trường đồ uống, có mặt ở hầu hết các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam và thường xuyên có xu hướng mở rộng thị phần song, Coca – Cola liên tục báo lỗ. 10 năm hoạt động ở Việt Nam, chưa một năm nào DN này có một báo cáo kết quả kinh doanh sáng sủa.
Cũng là một đại gia có tiếng tăm, Công ty TNHH Metro Cash & Carry Việt Nam, sau 11 năm mở rộng đến 19 trung tâm bán sỉ trên toàn quốc song vẫn chưa thấy có một đồng lãi nào. Thật nực cười ở chỗ, dù doanh thu tăng liên tục qua các năm nhưng kết quả kinh doanh của công ty này lại… lỗ triền miên. Cụ thể, năm 2007 doanh thu đạt hơn 6.607 tỉ đồng, nhưng số lỗ là 157 tỷ. Năm 2008 doanh thu lên tới  8.175 tỉ đồng song vẫn báo số lỗ trên 190 tỉ đồng. Năm 2009 doanh thu đạt 8.728 tỉ đồng, số lỗ cũng rất ấn tượng: 160 tỉ đồng. Tiếp đó, năm 2011, DN này lại khai lỗ 89 tỷ đồng.
Coca – Cola hay Metro chỉ là những trường hợp điển hình của thực trạng "lỗ giả lãi thật” của nhiều DN FDI ở Việt Nam hiện nay. Và đương  nhiên, khi đã kêu lỗ, thì DN lấy tiền đâu ra để nộp thuế. Kết cục là, các đại gia vẫn ung dung hoạt động mà không phải nộp một đồng thuế thu nhập DN.

Quyết liệt với những hành vi gian lận
Tổ chức ActionAid tại Việt Nam đưa ra nhận định rằng, hầu hết các công ty đa quốc gia đều có những kịch bản lách thuế, chuyển giá tương đối giống nhau. Họ mở chi nhánh tại một nước có mức thuế thấp để hưởng các ưu đãi về thuế, rồi tiến hành các chiêu chuyển giá, chuyển lợi nhuận sang công ty mẹ bằng cách nhập máy móc, dây chuyền, nguyên liệu, nộp phí nhượng quyền... với giá cao ngất ngưởng. Hành vi này đã khiến các nước đang phát triển thất thoát hàng tỷ USD tiền thuế mỗi năm. Và Việt Nam cũng là một trong những nạn nhân của hành vi này. Cho dù chưa có những kết quả nghiên cứu điều tra cụ thể được công bố trên toàn quốc, song điều mà ai cũng có thể dễ dàng nhận ra rằng, tình trạng chuyển giá, trốn thuế là một trong những nguyên nhân gây thất thoát rất lớn cho nguồn NSNN.
Theo Bộ Tài chính, một trong những mối quan tâm hàng đầu của Bộ hiện nay chính là nỗ lực tìm các giải pháp để chống chuyển giá và gian lận giá nhằm ngăn chặn thực trạng thất thu ngân sách. Và để thực thi Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011- 2020, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành quyết định về Chương trình hành động kiểm soát hoạt động chuyển giá giai đoạn 2011- 2015.

Dù vậy, theo giới luật gia, các quy định, chế tài của nước ta chưa đủ mạnh để điều chỉnh vấn đề thuế, chuyển giá đối với các công ty đa quốc gia. Và khi vẫn còn quá nhiều lỗ hổng trong chính sách của nước sở tại, sẽ không chỉ có Coca – Cola, Metro, hay Adidas… mà còn rất nhiều những DN khác nữa sẽ tiếp tục giở mánh "chuyển giá trốn thuế” hòng tìm kiếm lợi nhuận kếch xù. Do đó, việc siết chặt quy định, nâng cao chế tài và siết các lỗ hổng trong quản lý sẽ là giải pháp quan trọng để ngăn chặn cách hành vi này của các DN FDI.

Ngoài ra, một trong những giải pháp được kỳ vọng sẽ là công cụ hữu hiệu chống chuyển giá chính là APA -Thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế. Văn bản thực hiện phương pháp này đang được Bộ Tài chính gấp rút xây dựng với quyết tâm chống chuyển giá gây thất thu ngân sách nhà nước. Theo ý kiến của một số cán bộ ngành Thuế, khó khăn lớn nhất trong chống chuyển giá chính là xác định được giá thị trường, giá giao dịch độc lập. Do đó, APA sẽ là công cụ hỗ trợ rất đắc lực cho công tác chống chuyển giá ở Việt Nam.
  -Theo viettel.ca-

Thứ Năm, 1 tháng 8, 2013

Xử lý hóa đơn của người nộp thuế qua thanh, kiểm tra: Thực trạng và giải pháp

Nghị Định 51/2010/NĐ-CP của Chính phủ đã giao quyền cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tự in, phát hành, sử dụng, quản lý hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; Cơ quan thuế quản lý và giám sát việc sử dụng hóa đơn của người nộp thuế (NNT). Đây là một bước phát triển và cải tiến lớn trong công tác hóa đơn của Ngành thuế

 
Ảnh minh họa. Nguồn Interrnet

Công tác kiểm tra giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật thuế của NNT là một trong chức năng chính theo cơ chế quản lý thuế hiện nay. Cục Thuế Hà Nội xác định, công tác thanh, kiểm tra là xương sống của công tác thuế nên thường xuyên đề cao thực hiện. Thanh, kiểm tra nhằm giúp NNT và cả định hướng cho cán bộ thuế thực hiện nghiêm các văn bản pháp luật về thuế và những quy định trong việc quản lý thu, nộp thuế; đồng thời phát hiện, ngăn ngừa và xử lý các vi phạm cũng như giúp NNT nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế. Đặc biệt công tác quản lý, sử dụng hoá đơn tài chính thuế.
Các dạng vi phạm thường gặp trong xử lý hóa đơn GTGT điển hình là: hóa đơn không phải của doanh nghiệp bán; hóa đơn sử dụng trước thời điểm Cơ quan thuế thông báo bỏ trốn và không phải của doanh nghiệp bán; hóa đơn đơn vị bán hàng xuất khống (không có hàng) cho đơn vị mua hàng; hoá đơn xác minh có giá trị chênh lệch; mua trực tiếp của hộ cá thể; hoá đơn tự in của các doanh nghiệp in hoá đơn bán với số lượng lớn...
Thời gian qua, đại bộ phận NNT trên địa bàn Hà Nội đều chấp hành nghiêm chế độ in, phát hành, quản lý sử dụng hoá đơn. Tuy nhiên, vẫn có một số doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH, Công ty cổ phần và hộ kinh doanh đã có hành vi vi phạm quy định về in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn. Nhất là mua, bán hoá đơn bất hợp pháp, lập hoá đơn khống, tạo điều kiện cho NNT khác tính chi phí, kê khai thuế, khấu trừ, giảm số thuế phải nộp và hoàn thuế. Đặc biệt, lợi dụng việc cấp giấy phép đăng ký kinh doanh với thủ tục đơn giản nên một số doanh nghiệp thành lập nhưng không sản xuất kinh doanh mà chỉ mua, bán hoá đơn để kiếm lời rồi bỏ trốn...Những vi phạm của NNT nêu trên đã gây hậu quả nghiêm trọng làm thất thoát NSNN, ảnh hưởng không tốt đến môi trường kinh doanh và quá trình phát triển, uy tín của cộng đồng doanh nghiệp. 
 Để việc quản lý có hiệu quả hơn, ngăn chặn các vi phạm về hoá đơn, Cục Thuế Hà Nội đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thực hiện tốt quy trình thanh, kiểm tra việc chấp hành pháp luật thuế tại trụ sở NNT, kết hợp với việc kiểm tra việc tạo lập, phát hành, sử dụng hoá đơn. Căn cứ vào từng trường hợp vi phạm cụ thể về hoá đơn, Cục Thuế đã xử lý kịp thời; đồng thời nắm bắt tình hình quản lý và giám sát các hành vi gian lận về hóa đơn trong toàn ngành. Năm 2012, Cục Thuế đã gửi 10.200 phiếu xác minh hóa đơn, gồm 28.444 số; kết quả trả lời xác minh 7.570 phiếu, chiếm 74,21% số phiếu gửi đi.
 Qua xác minh hóa đơn và thanh, kiểm tra tại trụ sở NNT, phát hiện 786 số hóa đơn có vi phạm, truy thu thuế GTGT là 1.198 triệu đồng, thuế TNDN là 1.658 triệu đồng và xử phạt hành vi trốn thuế 646 triệu đồng, xử phạt hành chính 369 triệu đồng. Cục Thuế nhận được 72 công văn của các ngành, Cục Thuế các tỉnh bạn và nội bộ Ngành. Qua rà soát xử lý vi phạm hóa đơn GTGT: kiểm tra xử lý hóa đơn không còn giá trị sử dụng; hóa đơn doanh nghiệp bỏ địa chỉ kinh doanh; doanh nghiệp không còn tồn tại…đã xử lý truy thu và xử phạt 3.578 triệu đồng.
 Những năm qua, công tác quản lý, sử dụng hóa đơn đã được đi vào nề nếp. Công tác xử lý vi phạm sử dụng hóa đơn bất hợp pháp đã có tính răn đe và tác dụng đáng kể, bước đầu đã đạt được những kết quả tích cực. Qua đó, hạn chế việc mua, bán hoá đơn khống trên thị trường và cơ bản đã giảm thiểu được tình trạng thành lập doanh nghiệp “ma” để kinh doanh hoá đơn; các hành vi phạm tội chiếm đoạt tiền thuế GTGT đã được hạn chế; Cơ quan thuế và Công an đã phối hợp điều tra tội phạm về hóa đơn, xử lý nghiêm lợi dụng hoá đơn để trốn thuế, chiếm đoạt tiền thuế đã được hạn chế; môi trường kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng giữa các cộng đồng doanh nghiệp trong việc sử dụng, quản lý hoá đơn và quản lý thuế đã đi vào nề nếp hơn.
Từ công tác thanh, kiểm tra, Cục Thuế nhận thấy: NNT có nhiều ngành nghề, qui mô hoạt động kinh doanh khác nhau và ý thức tuân thủ pháp luật thuế cũng ở những mức độ khác nhau nên làm cho công tác quản lý thuế gặp rất nhiều khó khăn: dữ liệu báo cáo của Ngành thuế, tính liên kết chưa cao (chỉ có bản cứng) và thiếu các chỉ tiêu cụ thể nên việc xử lý vi phạm hóa đơn còn chậm vì phải tra cứu và gửi xác minh nhiều lần mới có đủ thông tin; báo cáo về quản lý sử dụng, xử lý hóa đơn của một số đơn vị chưa được chú trọng nên việc trả lời xác minh hóa đơn chưa được kịp thời; các văn bản về chế tài xử lý hóa đơn chưa cụ thể vì vi phạm rất đa dạng và phức tạp; Cơ quan thuế không có chức năng điều tra, do đó không đủ căn cứ để xác định việc mua, bán hàng của những hóa đơn là có thật hay không nên việc xử lý còn thiếu tính đồng bộ. NNT nghỉ kinh doanh hoặc bỏ trốn khỏi địa bàn ngày càng nhiều nhưng thông tin của các Cục Thuế khác gửi xác minh không có các file mềm nên việc cập nhật thông tin, tra cứu của NNT còn hoạt động hay không hoặc hóa đơn không có giá trị để gửi các đơn vị biết và xử lý gặp rất nhiều khó khăn; một số phiếu trả lời kết quả xác minh hóa đơn rất chung chung nên việc xử lý vi phạm của NNT kéo dài...Các cơ quan chức năng phối kết hợp với Cơ quan, khi trả lời kết quả xác minh hóa đơn chuyển Cơ quan thuế còn kéo dài thời gian…
 Để xử lý hoá đơn vi phạm, Cục Thuế đã đưa ra một số giải pháp và kiến nghị qua công tác thanh, kiểm tra: Cần có chế tài xử lý về hóa đơn bất hợp pháp cụ thể, chi tiết hơn đối với các dạng vi phạm để thống nhất trong Ngành thuế. Cần có chính sách về tài chính ngân hàng để hạn chế thanh toán, lưu thông tiền mặt trong nền kinh tế. Tăng cường mối quan hệ giữa cơ quan chức năng trong việc phối hợp và trả lời kết quả nhanh hơn, tránh tình trạng chuyển hồ sơ sang điều tra còn bị kéo dài. Việc cấp phép kinh doanh phải chặt chẽ hơn, có đầy đủ thông tin, tránh tình trạng cấp phép quá dễ gây khó khăn cho việc quản lý sau này. Công tác tập hợp dữ liệu trong toàn Ngành thuế thì tin học cơ sở là nền tảng phục vụ công tác quản lý, tra cứu thông tin cần nâng cấp hoàn thiện và kết nối thông suốt; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý về các doanh nghiệp bỏ trốn trên phạm vi toàn quốc để phục vụ cho công tác tra cứu chung toàn ngành.

Nguồn từ: gdt.gov.vn

Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013

Nguyên tắc khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào

1. Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT được khấu trừ toàn bộ, kể cả thuế giá trị gia tăng đầu vào không được bồi thường của hàng hoá chịu thuế giá trị gia tăng bị tổn thất.
Nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT 


Trường hợp hàng hoá có hao hụt tự nhiên do tính chất lý hoá trong quá trình vận chuyển, bơm rót như xăng, dầu… thì được kê khai, khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của số lượng hàng hoá thực tế hao hụt tự nhiên không vượt quá định mức hao hụt theo quy định. Số thuế GTGT đầu vào của số lượng hàng hoá hao hụt vượt định mức không được khấu trừ, hoàn thuế.

2. Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT thì chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT. Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ; trường hợp không hạch toán riêng được thì thuế đầu vào được khấu trừ theo tỷ lệ (%) giữa doanh số chịu thuế giá trị gia tăng so với tổng doanh số của hàng hoá, dịch vụ bán ra. Cơ sở kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT hàng tháng tạm phân bổ số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào được khấu trừ trong tháng, cuối năm cơ sở kinh doanh thực hiện tính phân bổ số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ của năm để kê khai điều chỉnh thuế GTGT đầu vào đã tạm phân bổ khấu trừ theo tháng.

3. Thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT thì được khấu trừ toàn bộ.

Thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định trong các trường hợp sau đây không được khấu trừ mà tính vào nguyên giá của tài sản cố định: tài sản cố định chuyên dùng phục vụ sản xuất vũ khí, khí tài phục vụ quốc phòng, an ninh; tài sản cố định, máy móc, thiết bị của các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh tái bảo hiểm, bảo hiểm nhân thọ, kinh doanh chứng khoán, các bệnh viện, trường học; tàu bay dân dụng, du thuyền không sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách, kinh doanh du lịch, khách sạn.
Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ hình thành tài sản cố định của doanh nghiệp như nhà ăn ca, nhà nghỉ giữa ca, nhà ở miễn phí, phòng thay quần áo, nhà để xe, nhà vệ sinh, bể nước phục vụ cho người lao động làm việc trong khu vực sản xuất, kinh doanh và nhà ở, trạm y tế cho người lao động làm việc trong các khu công nghiệp được khấu trừ toàn bộ.
Tài sản cố định là ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống (trừ ô tô sử dụng vào kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách, kinh doanh du lịch, khách sạn) có trị giá vượt trên 1,6 tỷ đồng (giá chưa có thuế GTGT) thì số thuế GTGT đầu vào tương ứng với phần trị giá vượt trên 1,6 tỷ đồng không được khấu trừ.

4. Cơ sở sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng đánh bắt thuỷ, hải sản có tổ chức sản xuất khép kín, hạch toán kết quả sản xuất kinh doanh tập trung có sử dụng sản phẩm ở các khâu sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp; nuôi trồng, đánh bắt thuỷ, hải sản làm nguyên liệu để tiếp tục sản xuất chế biến ra sản phẩm chịu thuế GTGT (bao gồm sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản chưa qua chế biến xuất khẩu hoặc sản phẩm đã qua chế biến thuộc đối tượng chịu thuế GTGT) được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào phục vụ cho sản xuất kinh doanh ở tất cả các khâu đầu tư xây dựng cơ bản, sản xuất, chế biến. Trường hợp cơ sở kinh doanh có dự án đầu tư để tiếp tục sản xuất, chế biến và có văn bản cam kết tiếp tục sản xuất sản phẩm chịu thuế GTGT thì được kê khai, khấu trừ thuế GTGT ngay từ giai đoạn đầu tư xây dựng cơ bản. Đối với thuế GTGT đầu vào phát sinh trong giai đoạn đầu tư XDCB, doanh nghiệp đã kê khai, khấu trừ, hoàn thuế nhưng sau đó xác định không đủ điều kiện, khấu trừ, hoàn thuế thì doanh nghiệp phải kê khai, điều chỉnh nộp lại tiền thuế GTGT đã khấu trừ, hoàn thuế. Trường hợp doanh nghiệp không thực hiện điều chỉnh, qua thanh tra, kiểm tra cơ quan thuế phát hiện ra thì cơ quan thuế sẽ thực hiện truy thu, truy hoàn và xử phạt theo quy định. Doanh nghiệp phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về các nội dung đã báo cáo, cam kết giải trình với cơ quan thuế liên quan đến việc khấu trừ, hoàn thuế.
Trường hợp cơ sở có bán hàng hóa là sản phẩm nông, lâm, thuỷ hải sản chưa qua chế biến hoặc mới qua sơ chế thông thường thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT thì số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào được tính khấu trừ theo tỷ lệ (%) doanh số hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT so với tổng doanh số của hàng hóa, dịch vụ bán ra.
Ví dụ 42 : Doanh nghiệp A có dự án đầu tư vườn cây cao su, có phát sinh số thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ ở khâu đầu tư XDCB, doanh nghiệp chưa có sản phẩm làm nguyên liệu để tiếp tục sản xuất chế biến ra sản phẩm chịu thuế GTGT (bao gồm cả sản phẩm chưa qua chế biến xuất khẩu hoặc sản phẩm đã qua chế biến thuộc đối tượng chịu thuế GTGT) nhưng có dự án xây dựng nhà máy chế biến mủ cao su (thuộc đối tượng chịu thuế GTGT) và cam kết sản phẩm trồng trọt tiếp tục chế biến ra sản phẩm chịu thuế GTGT thì Công ty được khấu trừ toàn bộ thuế GTGT đầu vào.
Trường hợp doanh nghiệp bán mủ cao su thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT thì doanh nghiệp không được khấu trừ thuế.
Trường hợp doanh nghiệp sử dụng một phần mủ cao su khai thác vào sản xuất sản phẩm chịu thuế GTGT, một phần bán ra thì thực hiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào như sau:
- Thuế GTGT đầu vào của TSCĐ (vườn cây cao su, nhà máy chế biến…): doanh nghiệp được khấu trừ toàn bộ (bao gồm cả thuế GTGT phát sinh trong giai đoạn đầu tư XDCB).
- Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ: thực hiện khấu trừ theo tỷ lệ (%) doanh số hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT so với tổng doanh số của hàng hoá, dịch vụ bán ra.

5. Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá (kể cả hàng hoá mua ngoài hoặc hàng hoá do doanh nghiệp tự sản xuất) mà doanh nghiệp sử dụng để cho, biếu, tặng, khuyến mại, quảng cáo dưới các hình thức, phục vụ cho sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT thì được khấu trừ.

6. Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng nêu tại Điều 4 Thông tư này được tính vào nguyên giá tài sản cố định, giá trị nguyên vật liệu hoặc chi phí kinh doanh. Trừ các trường hợp sau:
a) Thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh mua vào để sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế để viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại quy định tại khoản 19 Điều 4 Thông tư này được khấu trừ toàn bộ;
b) Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ dầu khí đến ngày khai thác đầu tiên hoặc ngày sản xuất đầu tiên được khấu trừ toàn bộ.

7. Thuế GTGT đầu vào phát sinh trong tháng nào được kê khai, khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó, không phân biệt đã xuất dùng hay còn để trong kho.
a) Trường hợp cơ sở kinh doanh phát hiện số thuế GTGT đầu vào khi kê khai, khấu trừ còn sót hoá đơn chưa kê khai, khấu trừ thì được kê khai, khấu trừ bổ sung; thời gian để kê khai, khấu trừ bổ sung tối đa là 6 (sáu) tháng, kể từ tháng phát sinh hoá đơn bỏ sót, trừ trường hợp hướng dẫn tại điểm b khoản này.
Ví dụ 43: Cơ sở kinh doanh A có 01 hoá đơn GTGT mua vào lập ngày 10/3/2012. Trong kỳ kê khai thuế tháng 3/2012, kế toán của cơ sở kinh doanh bỏ sót không kê khai hoá đơn này thì cơ sở kinh doanh A được kê khai và khấu trừ bổ sung tối đa là kỳ kê khai tháng 8/2012.
b) Trường hợp cơ sở kinh doanh kê khai sót về số thuế GTGT đã nộp ở khâu nhập khẩu (kể cả số thuế GTGT đã nộp ở khâu nhập khẩu có chứng từ nộp thuế trước ngày 01/3/2012), số thuế GTGT đầu vào đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động thì được kê khai, khấu trừ bổ sung theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Ví dụ 44 : Cơ sở kinh doanh B đã nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu theo chứng từ nộp thuế ngày 01/3/2012, do nhầm lẫn, kế toán của doanh nghiệp đã bỏ sót không kê khai chứng từ này tại Tờ khai thuế GTGT của các tháng tiếp theo thì cơ sở kinh doanh B được kê khai khấu trừ bổ sung thuế GTGT đã nộp ở khâu nhập khẩu (theo chứng từ nộp thuế) theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Ví dụ 45 : Cơ sở kinh doanh Y đã nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu theo chứng từ nộp thuế trước ngày 01/3/2012, do nhầm lẫn, kế toán của cơ sở kinh doanh đã bỏ sót không kê khai chứng từ này, ngày 1/3/2012 kế toán của cơ sở kinh doanh mới phát hiện ra việc khai sót chứng từ nêu trên thì cơ sở kinh doanh B được kê khai khấu trừ bổ sung thuế GTGT đã nộp ở khâu nhập khẩu (theo chứng từ nộp thuế) theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
c) Trường hợp cơ sở kinh doanh đã lập hoá đơn GTGT bán hàng hoá, dịch vụ nhưng phát hiện sai sót về thuế GTGT, phải lập hoá đơn điều chỉnh, bổ sung thì thời hạn kê khai khấu trừ, bổ sung thuế GTGT của cơ sở kinh doanh mua hàng hoá, dịch vụ được tính từ thời điểm lập hoá đơn điều chỉnh, bổ sung.

8. Số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ, cơ sở kinh doanh được hạch toán vào chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc vào tính vào nguyên giá tài sản cố định theo quy định của pháp luật.

9. Văn phòng Tổng công ty, tập đoàn không trực tiếp hoạt động kinh doanh và các đơn vị hành chính sự nghiệp trực thuộc như: Bệnh viện, Trạm xá, Nhà nghỉ điều dưỡng, Viện, Trường đào tạo... không phải là người nộp thuế GTGT thì không được khấu trừ hay hoàn thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ mua vào phục vụ cho hoạt động của các đơn vị này.
Trường hợp các đơn vị này có hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT thì phải đăng ký, kê khai nộp thuế GTGT riêng cho các hoạt động này.
Ví dụ 46: Văn phòng Tổng công ty A không trực tiếp sản xuất, kinh doanh, sử dụng kinh phí do các cơ sở trực thuộc đóng góp để hoạt động nhưng Văn phòng Tổng công ty có cho thuê nhà (văn phòng) phần không sử dụng hết thì Văn phòng Tổng công ty phải hạch toán, kê khai nộp thuế riêng cho hoạt động cho thuê văn phòng. Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ phục vụ cho hoạt động của Văn phòng Tổng công ty không được khấu trừ hay hoàn thuế.

10. Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho các hoạt động cung cấp hàng hoá, dịch vụ không kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng quy định tại Điều 5 Thông tư này được khấu trừ toàn bộ.
Ví dụ 47: Công ty cổ phần xây dựng X nhận xây dựng công trình tại Lào. Ngoài số nguyên liệu, vật tư xuất khẩu sang Lào để thực hiện công trình xây dựng, Công ty CP xây dựng X có phát sinh một số chi phí khác tại Việt Nam phục vụ hoạt động thi công công trình tại Lào như chi phí quản lý, các chi phí này có hóa đơn GTGT (đối với những hóa đơn GTGT có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thực hiện thanh toán qua ngân hàng) thì Công ty cổ phần xây dựng X được kê khai, khấu trừ toàn bộ thuế GTGT đầu vào của các chi phí nêu trên.

11. Cơ sở kinh doanh được kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ mua vào dưới hình thức uỷ quyền cho tổ chức, cá nhân khác mà hoá đơn mang tên tổ chức, cá nhân được uỷ quyền bao gồm các trường hợp sau đây:
a) Doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền cho người tham gia bảo hiểm sửa chữa tài sản; chi phí sửa chữa tài sản cùng các vật tư, phụ tùng thay thế có hóa đơn GTGT ghi tên người tham gia bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện thanh toán cho người tham gia bảo hiểm phí bảo hiểm tương ứng theo hợp đồng bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm được kê khai khấu trừ thuế GTGT tương ứng với phần bồi thường bảo hiểm thanh toán theo hóa đơn GTGT đứng tên người tham gia bảo hiểm; trường hợp phần bồi thường bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm thanh toán cho người tham gia bảo hiểm có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì phải thực hiện thanh toán qua ngân hàng.
b) Trước khi thành lập doanh nghiệp, các sáng lập viên có văn bản ủy quyền cho tổ chức, cá nhân thực hiện chi hộ một số khoản chi phí liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp, mua sắm hàng hóa, vật tư thì doanh nghiệp được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo hóa đơn GTGT đứng tên tổ chức, cá nhân được ủy quyền và phải thực hiện thanh toán cho tổ chức, cá nhân được ủy quyền qua ngân hàng đối với những hóa đơn có giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên.

12. Trường hợp cá nhân, tổ chức không kinh doanh có góp vốn bằng tài sản vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần thì chứng từ đối với tài sản góp vốn là biên bản chứng nhận góp vốn, biên bản giao nhận tài sản. Trường hợp tài sản góp vốn là tài sản mới mua, chưa sử dụng, có hoá đơn hợp pháp được hội đồng giao nhận vốn góp chấp nhận thì trị giá vốn góp được xác định theo trị giá ghi trên hoá đơn bao gồm cả thuế GTGT; Bên nhận vốn góp được kê khai khấu trừ thuế GTGT ghi trên hoá đơn mua tài sản của bên góp vốn.

13. Đối với hộ kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp trên GTGT được chuyển sang nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế, được khấu trừ thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào phát sinh kể từ tháng được áp dụng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế; đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào trước tháng được áp dụng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế thì không được tính khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

14. Cơ sở kinh doanh không được tính khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với trường hợp:
- Hoá đơn GTGT sử dụng không đúng quy định của pháp luật như: hóa đơn GTGT không ghi thuế GTGT (trừ trường hợp đặc thù được dùng hoá đơn GTGT ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT);
- Hoá đơn không ghi hoặc ghi không đúng một trong các chỉ tiêu như tên, địa chỉ, mã số thuế của người bán nên không xác định được người bán;
- Hoá đơn không ghi hoặc ghi không đúng một trong các chỉ tiêu như tên, địa chỉ, mã số thuế của người mua nên không xác định được người mua (trừ trường hợp hướng dẫn tại khoản 11 Điều này);
- Hóa đơn, chứng từ nộp thuế GTGT giả, hóa đơn bị tẩy xóa, hóa đơn khống (không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo);
- Hóa đơn ghi giá trị không đúng giá trị thực tế của hàng hóa, dịch vụ mua, bán hoặc trao đổi.

Nguồn tham khảo
Điều 14 - Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012
Mục 8 của điều 1 - Thông tư số 65/2013/TT-BTC ngày 17/05/2013

Thứ Năm, 11 tháng 7, 2013

Một số nội dung mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT

Nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp khi mà kinh tế trong nước đang chịu tác động bởi suy thoái  kinh tế thế giới ngày càng trầm trọng. Vừa qua, Chính phủ đã trình Quốc hội dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT). Theo đó, một số nội dung chính được sửa đổi, bổ sung như sau:
Một là: Về đối tượng không chịu thuế GTGT. Dự thảo Luật thế GTGT bổ sung làm rõ thêm đối vớiCác sản phẩm từ muối được sản xuất từ nước biển, muối mỏ tự nhiên, muối tinh, muối i-ốt mà thành phần chính có công thức hoá học là NaCl.
Bổ sung vào đối tượng không chịu thuế GTGT:
Bảo hiểm sức khỏe, các dịch vụ bảo hiểm khác liên quan đến con người; các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp khác; bảo hiểm tàu, thuyền, trang thiết bị và các dụng cụ cần thiết khác phục vụ trực tiếp đánh bắt thuỷ sản; bảo hiểm cho ngư dân.
+ Bán tài sản bảo đảm của khoản nợ của tổ chức Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam.
+ Phụ tùng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để sử dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học.
- Bỏ dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư ở quy định về đối tượng không chịu thuế mà chuyển sang đối tượng chịu thuế suất 10%.
- Quy định Hàng hóa, dịch vụ của cá nhân kinh doanh có mức doanh thu hàng năm từ 100 triệu đồng trở xuống thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
Hai là: Về giá tính thuế GTGT.
Bổ sung quy định giá tính thuế GTGT đối với hàng hoá chịu thuế bảo vệ môi trường l là giá bán đã có thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế GTGT.
Bỏ nội dung“Trường hợp thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải của nước ngoài loại trong nước chưa sản xuất được để cho thuê lại, giá tính thuế được trừ giá thuê phải trả cho nước ngoài;”.
Ba là: Về thuế suất thuế GTGT
- Bổ sung quy định nguyên tắc xác định hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% là hàng hoá, dịch vụ được tiêu dùng ở ngoài Việt Nam, trong khu phi thuế quan; hàng hoá, dịch vụ cung cấp cho khách hàng nước ngoài theo quy định của Chính phủ.
Bổ sung mức thuế suất thuế GTGT 5% đối với bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở xã hội theo quy định của Luật nhà ở.
Giảm thuế GTGT cho doanh nghiệp

Bốn là: Về ngưỡng đăng ký nộp thuế GTGT và phương pháp tính thuế.
Luật thuế GTGT mới bổ sung quy định về ngưỡng doanh thu nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ là: Cơ sở kinh doanh có doanh thu hàng năm từ bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ từ một tỷ đồng trở lên, trừ hộ, cá nhân kinh doanh và trừ trường hợp có đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ. Như vậy, từ ngày 01/01/2014 hộ, cá nhân kinh doanh thuộc đối tượng áp dụng thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp – không thuộc đối tượng áp dụng phương pháp khấu trừ kể cả trường hợp có doanh thu hàng năm trên 1 tỷ.
- Về phương pháp tính trực tiếp. Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT áp dụng duy nhất đối với hoạt động mua bán, chế tác vàng, bạc, đá quý. Cách xác định:
Số thuế phải nộp = Giá trị gia tăng x Thuế suất thuế GTGT.
- Phương pháp tính theo tỷ lệ % nhân với doanh thu. Đối tượng áp dụng: Doanh nghiệp, HTX có doanh thu hàng năm dưới mức ngưỡng doanh thu một tỷ đồng, trừ trường hợp đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế; Hộ, cá nhân kinh doanh;Nhà thầu nước ngoài chưa thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ, trừ nhà thầu dầu khí nộp thuế theo phương pháp khấu trừ do bên Việt Nam khấu trừ nộp thay; Tổ chức kinh tế khác, trừ trường hợp tự nguyện đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ. Cách xác định:
Số thuế phải nộp = Tỷ lệ % x Doanh thu.
Tỷ lệ thu được phân biệt theo 4 loại ngành nghề:
+ Phân phối, cung cấp hàng hoá: 1%;
+ Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 5%;
+ Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hoá, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: 3%;
+ Hoạt động kinh doanh khác: 2%.”
Năm là: Về khấu trừ thuế GTGT. Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung bỏ khống chế thời hạn (6 tháng) kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hóa đơn điều chỉnh bổ sung trong trường hợp có sai sót, miễn là trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra, thanh tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế. Bỏ quy định thuế GTGT đầu vào của TSCĐ sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT được khấu trừ toàn bộ.
 Sáu là: Về hoàn thuế GTGT. Dự thảo Luật bổ sung trường hợp hoàn thuế GTGT theo quý; Theo đó, trường hợp cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng khai thuế theo quý nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết trong quý thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo; Trường hợp sau bốn quý tính từ quý đầu tiên phát sinh số thuế GTGT chưa được khấu trừ mà vẫn còn số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế.
- Sửa đổi phương thức từ hoàn thuế trong 03 tháng liên tục có số thuế âm sang khấu trừ vào các kỳ tiếp theo đến sau ít nhấtmười hai tháng tính từ tháng đầu tiên nếu còn số thuế âm mới hoàn thuế GTGT.  
- Sửa mức thuế GTGT tối thiểu được hoàn đối với đầu tư và xuất khẩu là 300 triệu đồng.
Bổ sung quy định việc hoàn thuế GTGT đối với hàng hoá mang theo khi xuất cảnh của người mang hộ chiếu nước ngoài.
Bảy là: Về giải pháp giảm thuế GTGT. Dự thảo Luật thuế GTGT sửa đổi, bổ sung lần này quy định: Thực hiện giảm 50% mức thuế suất thuế GTGT từ ngày 01 tháng 7 năm 2013 đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2014 đối với bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở thương mại là căn hộ hoàn thiện có diện tích sàn dưới 70 m2 và có giá bán dưới 15 triệu đồng/m2.
Luật thuế GTGT sửa đổi, bổ sung có hiệu lc thi hành từ 1/1/2014. Riêng đối với việc áp dụng thuế suất 5% đối với bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở xã hội theo quy định của Luật nhà ở thực hiện từ 1/7/2013 nhằm góp phần hỗ trợ cho doanh nghiệp giảm bớt khó khăn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh trong bối cảnh tình hình kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế dự báo còn có những biến động khó lường. Đồng thời, quy định này sẽ có tác dụng hỗ trợ thị trường bất động sản, từ đó sẽ tác động đến nhu cầu tiêu thụ đối với các mặt hàng xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng và nội thất, góp phần giải quyết nợ xấu./.
Theo: gdt.gov.vn
Từ khóa tìm kiếm : chữ ký số, chữ ký số viettel, chữ ký số viettel ca