Đây là dụng cụ giúp doanh nghiệp thực hành thủ tục thương chính qua mạng Internet, thay vì phải thực hiện kê khai trên giấy. Giải pháp eHaiQuan được Bkav xây dựng theo tiêu chuẩn của hệ thống hải quan điện tử, tương thích với VNACCS/VCIS là tiêu chuẩn Nhật Bản sẽ được Tổng cục hải quan thay thế cho hệ thống hiện tại từ năm 2014.
Việc ban bố eHaiQuan của Bkav sẽ là tín hiệu vui cho nhiều doanh nghiệp, khi bắt đầu từ ngày 1/11 hàng chục nghìn doanh nghiệp trên cả nước phải dùng Chữ ký số công cộng khi thông quan điện tử (theo Quyết định 2341/QĐ-BTC).
Trên ehaiquan.Vn, phần mềm này được tải miễn phí 12 tháng sử dụng, có dung lượng 104,45Mb, yêu cầu máy cài đặt sử dụng hệ điều hành Windows XP/7/8 hoặc Vista.
Hơn 7.200 doanh nghiệp thực hiện kê khai điện tử
Ông Ngô Tuấn Anh, Phó chủ tịch gánh vác Bkav CA, cho biết, bây chừ nhiều doanh nghiệp phải nâng cấp hoặc bỏ tiền mua phần mềm hải quan với hoài từ vài triệu đến vài chục triệu đồng cho một năm sử dụng. Do đó, để hỗ trợ doanh nghiệp, Bkav quyết định miễn phí eHaiQuan nhằm thúc đẩy giao thiệp điện tử được bảo đảm bằng chữ ký số một cách an toàn, thuận tiện.Các doanh nghiệp tải về phần mềm và cài đặt theo hướng dẫn tại đây .
Hiển thị các bài đăng có nhãn viettelca. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn viettelca. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 23 tháng 10, 2013
Miễn phí phần mềm hải quan có tích hợp chữ ký số
Nhãn:
chữ ký số viettel,
Tin Tức,
VIETTEL CA,
viettelca
Google Account Video Purchases
37 Đỗ Quang, Trung Hoà, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam
Chủ Nhật, 13 tháng 10, 2013
“Chữ ký số là chìa khóa giải quyết các tranh chấp”
Làm thế nào để truy nguyên và chứng minh được hành vi lường đảo ở môi trường internet nấp bóng “thương nghiệp điện tử”? Xung quanh vấn đề này, PV đã có cuộc thảo luận với ông Vũ Ngọc Sơn - Giám đốc Bộ phận nghiên cứu của Bkav R&D. Lâu nay, người dân vẫn cho rằng, công nghệ thông tin là điều rất cao siêu. Song có thông tin cho biết, để lập một trang web như MB24 chỉ mất có vài tiếng đồng hồ. Ông đánh giá vấn đề này như thế nào? Về mặt công nghệ, việc xây dựng website giờ có nhiều công cụ để tương trợ. Chính vì thế, thời gian để thiết lập một website đơn giản thì không mất quá nhiều thời gian, bao gồm việc xây dựng website, mua tên miền, thuê nơi đặt website. Hẳn nhiên những công việc này cũng đòi hỏi người thực hành phải có một số tri thức cơ bản về CNTT. Ông Vũ Ngọc Sơn – Giám đốc Bộ phận nghiên cứu của Bkav R&D Về mặt công nghệ, mỗi hành vi vi phạm, lợi dụng môi trường Internet để lừa đảo, đều để lại dấu vết. Theo ông, các vết tích này có thể truy nguyên và chứng minh được hành vi vi phạm? Lường đảo trực tuyến cũng là một dạng tù đọng mạng. Mọi hoạt động trên mạng thực tế đều để lại dấu tích và các dấu vết để lại trên mạng có thể được dùng như những bằng cớ truyền thống khác. Việc xử lý phạm nhân mạng hiện cũng đã được quy định rõ trong Bộ luật Hình sự tại các điều 224, 225, 226. Là một chuyên gia về an ninh mạng, ông có đánh giá gì về thủ đoạn lừa đảo của MB24 ? Theo tôi, mô hình hoạt động của MB24 là mô hình kinh doanh đa cấp với vỏ bọc là thương nghiệp điện tử. Hàng hóa được kinh dinh ở đây là các gian hàng ảo nhưng việc giới thiệu sản phẩm, mua bán hàng hóa không diễn ra trên mạng, mà vẫn theo cách trực tiếp. Chính do vậy, hình thức lường đảo ở đây vẫn là những hình thức lường đảo bình thường, điểm dị biệt chỉ là hàng hóa ảo. hiện thời việc khai triển chứng thư điện tử và chữ ký số đang rất được quan hoài. Theo ông, cần làm gì để cho các hoạt động giao du trên internet được đảm sáng tỏ, an toàn và có cơ sở pháp luật? Thực tế, vài năm gần đây, dịch vụ chứng thư điện tử ngày một phát triển ở nhiều nước trên thế giới. Đây là dịch vụ được cung cấp bởi các đơn vị có thẩm quyền chứng thực. Trong đó có một số nhà cung cấp dịch chứng thư điện tử nổi tiếng như: VeriSign, WISeKey, eTrust,... Có chi nhánh tại nhiều nước trên thế giới. Do tính xác thực, tính bảo mật, tính toàn vẹn dữ liệu và tính không chối bỏ, chứng thư điện tử được dùng trong khá nhiều các áp dụng như: ký vào tài liệu điện tử, thư điện tử bảo đảm, thương mại điện tử… Song, ở Việt Nam, cần có hệ thống luật pháp công nhận tính pháp lý của chữ ký số, quy định hoạt động của dịch vụ chứng thư điện tử (thường là luật chữ ký số hoặc luật giao tiếp điện tử) và các nhà cung cấp dịch vụ chứng thư điện tử. Chứng thư điện tử là hoạt động chứng nhận tính danh của những người tham gia vào việc gửi và nhận thông tin qua mạng, song song, cung cấp cho họ những dụng cụ, những dịch vụ cần thiết để thực hiện việc bảo mật thông báo, chứng thực cội nguồn và nội dung thông tin. Hạ tầng công nghệ của chứng nhận điện tử là cơ sở hạ tầng khóa công khai với nền tảng là mật mã khóa công khai và chữ ký số. Người sử dụng sẽ được các nhà cung cấp dịch vụ chứng thư điện tử trao chứng chỉ số và phải được gán một cặp khóa mã (khóa bí mật và khóa công khai) để có thể dự dùng chứng thư điện tử trong các áp dụng mà mình dự. Theo ý kiến của tôi, chữ ký số rất quan trọng trong việc giao du điện tử. Nó chẳng những giúp cho các giao thiệp được an toàn mà còn là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp giữa các bên. Về mặt quy định, cần có những văn bản quy định rõ tiêu chuẩn xây dựng hệ thống an toàn cho các nhà cung cấp dịch vụ thương mai điện tử, trong đó đề cao sử dụng chữ ký số. Đối với người dùng, cần lưu ý chọn lọc các nhà cung cấp dịch vụ uy tín cũng như thận trọng trong các giao tế. Xin cảm ơn ông! Đông Phương (thực hiện) |
Google Account Video Purchases
37 Đỗ Quang, Trung Hoà, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam
Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013
KHUYẾN MẠI CHỮ KÝ SỐ VIETTEL THÁNG 08
Chứng thực chữ ký số là dịch vụ được sử dụng trong các giao dịch điện tử nhằm xác định danh tính của người ký, đảm bảo tính toàn vẹn và giá trị pháp lý của các giao dịch điện tử. Ứng dụng này giúp việc thực hiện các giao dịch từ xa qua Internet trở nên dễ dàng, đơn giản và bảo mật.
-- Thủ tục và hồ sơ đăng ký gồm:
Viettel tiếp tục ra hạn khuyến mại Chữ ký số trong tháng 08. Chương trình khuyến mại tháng 08/2013 cụ thể như sau:
A. CHỨNG THƯ VIETTEL.CA: GÓI CƠ BẢN
1. Dành cho Tổ chức, doanh nghiệp đăng ký mới.
Loại chứng thư số | Tên gói | Chức năng | Thông số | Giá (VNĐ/ CTS/năm) | ||
1 năm | 2 năm | 3 năm | ||||
Cơ bản | CA–2 | · Kê khai thuế qua mạng, kê khai hải quan điện tử | Độ dài khóa 1024 bit | 900,000 | 1,530,000 | 2,160,000 |
· Ký email, văn bản điện tử . Ký số cho văn bản Word, Excel, Pdf (Document Signning) | ||||||
Khuyến mại | Tặng 9 tháng | Tặng 9 tháng | Tặng 9 tháng & USB Token | |||
2. Dành cho Tổ chức, doanh nghiệp đăng gia hạn chữ ký số.
Loại chứng thư số | Tên gói | Chức năng | Thông số | Giá (VNĐ/ CTS/năm) | ||
1 năm | 2 năm | 3 năm | ||||
Cơ bản | CA–2 | · Kê khai thuế qua mạng, kê khai hải quan điện tử | Độ dài khóa 1024 bit | 900,000 | 1,530,000 | 2,160,000 |
· Ký email, văn bản điện tử . Ký số cho văn bản Word, Excel, Pdf (Document Signning) | ||||||
Khuyến mại | Tặng 9 tháng | Tặng 9 tháng | Tặng 12 tháng | |||
Khách hàng đang sử dụng chữ ký số của nhà cung cấp khác chuyển sang Viettel được MIỄN PHÍ USB TOKEN với gói 2 năm và 3 năm.
* Phí USB Token là 490.000đ.
* Tất cả các giá trên chưa bao gồm 10% VAT
* Thủ tục đăng ký nhanh gọn trong 24h.
* Có hóa đơn đỏ ngay sau khi bàn giao dịch vụ.
* Ký hợp đồng và cài đặt hướng dẫn kê khai tận nơi.
* Hỗ trợ dịch vụ và bảo hành mãi mãi trong quá trình sử dụng.
* Ký hợp đồng và cài đặt hướng dẫn kê khai tận nơi.
* Hỗ trợ dịch vụ và bảo hành mãi mãi trong quá trình sử dụng.
-- Thủ tục và hồ sơ đăng ký gồm:
1. Bản sao giấy phép kinh doanh công chứng hoặc bản Photo có dấu của Cty.
2. Bản CMT/Hộ Chiếu của người đứng đầu cơ quan, tổ chức công chứng hoặc bản Photo có dấu của Cty, cơ quan.
3. Giấy chứng nhận mã số thuế doanh nghiệp nếu không trùng với số giấy phép kinh doanh.
* Mọi thông tin đăng ký xin gửi về Mail: dangky@chukysoviettel.com, chúng tôi sẽ trả lời ngay sau khi nhận được thông tin của quý khách.
Thông tin liên hệ: Đăng ký trên toàn quốc
Thông tin liên hệ: Đăng ký trên toàn quốc
Hotline 1: 0962.63.8668(Mr Sơn)
Hotline 2: 0987.193.999(Ms Ngân)
Điện thoại: 04.66.55.75.95
Email: dangky@chukysoviettel.com
Website : http://www.chukysoviettel.com
Địa Chỉ: Tại Hà Nội: Số 37 Đỗ Quang - Cầu Giấy – Hà Nội
Tại Hồ Chí Minh : Số 158/2A Hoàng Hoa Thám – Tân Bình - Hồ Chí MinhThứ Năm, 25 tháng 7, 2013
Nguyên tắc khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào
1. Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT được khấu trừ toàn bộ, kể cả thuế giá trị gia tăng đầu vào không được bồi thường của hàng hoá chịu thuế giá trị gia tăng bị tổn thất.
Nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT
Trường hợp hàng hoá có hao hụt tự nhiên do tính chất lý hoá trong quá trình vận chuyển, bơm rót như xăng, dầu… thì được kê khai, khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của số lượng hàng hoá thực tế hao hụt tự nhiên không vượt quá định mức hao hụt theo quy định. Số thuế GTGT đầu vào của số lượng hàng hoá hao hụt vượt định mức không được khấu trừ, hoàn thuế.
2. Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT thì chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT. Cơ sở kinh doanh phải hạch toán riêng thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ; trường hợp không hạch toán riêng được thì thuế đầu vào được khấu trừ theo tỷ lệ (%) giữa doanh số chịu thuế giá trị gia tăng so với tổng doanh số của hàng hoá, dịch vụ bán ra. Cơ sở kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT hàng tháng tạm phân bổ số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào được khấu trừ trong tháng, cuối năm cơ sở kinh doanh thực hiện tính phân bổ số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ của năm để kê khai điều chỉnh thuế GTGT đầu vào đã tạm phân bổ khấu trừ theo tháng.
3. Thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT thì được khấu trừ toàn bộ.
Thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định trong các trường hợp sau đây không được khấu trừ mà tính vào nguyên giá của tài sản cố định: tài sản cố định chuyên dùng phục vụ sản xuất vũ khí, khí tài phục vụ quốc phòng, an ninh; tài sản cố định, máy móc, thiết bị của các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh tái bảo hiểm, bảo hiểm nhân thọ, kinh doanh chứng khoán, các bệnh viện, trường học; tàu bay dân dụng, du thuyền không sử dụng cho mục đích kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách, kinh doanh du lịch, khách sạn.
Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ hình thành tài sản cố định của doanh nghiệp như nhà ăn ca, nhà nghỉ giữa ca, nhà ở miễn phí, phòng thay quần áo, nhà để xe, nhà vệ sinh, bể nước phục vụ cho người lao động làm việc trong khu vực sản xuất, kinh doanh và nhà ở, trạm y tế cho người lao động làm việc trong các khu công nghiệp được khấu trừ toàn bộ.
Tài sản cố định là ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống (trừ ô tô sử dụng vào kinh doanh vận chuyển hàng hoá, hành khách, kinh doanh du lịch, khách sạn) có trị giá vượt trên 1,6 tỷ đồng (giá chưa có thuế GTGT) thì số thuế GTGT đầu vào tương ứng với phần trị giá vượt trên 1,6 tỷ đồng không được khấu trừ.
4. Cơ sở sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng đánh bắt thuỷ, hải sản có tổ chức sản xuất khép kín, hạch toán kết quả sản xuất kinh doanh tập trung có sử dụng sản phẩm ở các khâu sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp; nuôi trồng, đánh bắt thuỷ, hải sản làm nguyên liệu để tiếp tục sản xuất chế biến ra sản phẩm chịu thuế GTGT (bao gồm sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản chưa qua chế biến xuất khẩu hoặc sản phẩm đã qua chế biến thuộc đối tượng chịu thuế GTGT) được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào phục vụ cho sản xuất kinh doanh ở tất cả các khâu đầu tư xây dựng cơ bản, sản xuất, chế biến. Trường hợp cơ sở kinh doanh có dự án đầu tư để tiếp tục sản xuất, chế biến và có văn bản cam kết tiếp tục sản xuất sản phẩm chịu thuế GTGT thì được kê khai, khấu trừ thuế GTGT ngay từ giai đoạn đầu tư xây dựng cơ bản. Đối với thuế GTGT đầu vào phát sinh trong giai đoạn đầu tư XDCB, doanh nghiệp đã kê khai, khấu trừ, hoàn thuế nhưng sau đó xác định không đủ điều kiện, khấu trừ, hoàn thuế thì doanh nghiệp phải kê khai, điều chỉnh nộp lại tiền thuế GTGT đã khấu trừ, hoàn thuế. Trường hợp doanh nghiệp không thực hiện điều chỉnh, qua thanh tra, kiểm tra cơ quan thuế phát hiện ra thì cơ quan thuế sẽ thực hiện truy thu, truy hoàn và xử phạt theo quy định. Doanh nghiệp phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về các nội dung đã báo cáo, cam kết giải trình với cơ quan thuế liên quan đến việc khấu trừ, hoàn thuế.
Trường hợp cơ sở có bán hàng hóa là sản phẩm nông, lâm, thuỷ hải sản chưa qua chế biến hoặc mới qua sơ chế thông thường thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT thì số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào được tính khấu trừ theo tỷ lệ (%) doanh số hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT so với tổng doanh số của hàng hóa, dịch vụ bán ra.
Ví dụ 42 : Doanh nghiệp A có dự án đầu tư vườn cây cao su, có phát sinh số thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ ở khâu đầu tư XDCB, doanh nghiệp chưa có sản phẩm làm nguyên liệu để tiếp tục sản xuất chế biến ra sản phẩm chịu thuế GTGT (bao gồm cả sản phẩm chưa qua chế biến xuất khẩu hoặc sản phẩm đã qua chế biến thuộc đối tượng chịu thuế GTGT) nhưng có dự án xây dựng nhà máy chế biến mủ cao su (thuộc đối tượng chịu thuế GTGT) và cam kết sản phẩm trồng trọt tiếp tục chế biến ra sản phẩm chịu thuế GTGT thì Công ty được khấu trừ toàn bộ thuế GTGT đầu vào.
Trường hợp doanh nghiệp bán mủ cao su thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT thì doanh nghiệp không được khấu trừ thuế.
Trường hợp doanh nghiệp sử dụng một phần mủ cao su khai thác vào sản xuất sản phẩm chịu thuế GTGT, một phần bán ra thì thực hiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào như sau:
- Thuế GTGT đầu vào của TSCĐ (vườn cây cao su, nhà máy chế biến…): doanh nghiệp được khấu trừ toàn bộ (bao gồm cả thuế GTGT phát sinh trong giai đoạn đầu tư XDCB).
- Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ: thực hiện khấu trừ theo tỷ lệ (%) doanh số hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT so với tổng doanh số của hàng hoá, dịch vụ bán ra.
5. Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá (kể cả hàng hoá mua ngoài hoặc hàng hoá do doanh nghiệp tự sản xuất) mà doanh nghiệp sử dụng để cho, biếu, tặng, khuyến mại, quảng cáo dưới các hình thức, phục vụ cho sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT thì được khấu trừ.
6. Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng nêu tại Điều 4 Thông tư này được tính vào nguyên giá tài sản cố định, giá trị nguyên vật liệu hoặc chi phí kinh doanh. Trừ các trường hợp sau:
a) Thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh mua vào để sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế để viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại quy định tại khoản 19 Điều 4 Thông tư này được khấu trừ toàn bộ;
b) Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ dầu khí đến ngày khai thác đầu tiên hoặc ngày sản xuất đầu tiên được khấu trừ toàn bộ.
7. Thuế GTGT đầu vào phát sinh trong tháng nào được kê khai, khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó, không phân biệt đã xuất dùng hay còn để trong kho.
a) Trường hợp cơ sở kinh doanh phát hiện số thuế GTGT đầu vào khi kê khai, khấu trừ còn sót hoá đơn chưa kê khai, khấu trừ thì được kê khai, khấu trừ bổ sung; thời gian để kê khai, khấu trừ bổ sung tối đa là 6 (sáu) tháng, kể từ tháng phát sinh hoá đơn bỏ sót, trừ trường hợp hướng dẫn tại điểm b khoản này.
Ví dụ 43: Cơ sở kinh doanh A có 01 hoá đơn GTGT mua vào lập ngày 10/3/2012. Trong kỳ kê khai thuế tháng 3/2012, kế toán của cơ sở kinh doanh bỏ sót không kê khai hoá đơn này thì cơ sở kinh doanh A được kê khai và khấu trừ bổ sung tối đa là kỳ kê khai tháng 8/2012.
b) Trường hợp cơ sở kinh doanh kê khai sót về số thuế GTGT đã nộp ở khâu nhập khẩu (kể cả số thuế GTGT đã nộp ở khâu nhập khẩu có chứng từ nộp thuế trước ngày 01/3/2012), số thuế GTGT đầu vào đang trong giai đoạn đầu tư, chưa đi vào hoạt động thì được kê khai, khấu trừ bổ sung theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Ví dụ 44 : Cơ sở kinh doanh B đã nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu theo chứng từ nộp thuế ngày 01/3/2012, do nhầm lẫn, kế toán của doanh nghiệp đã bỏ sót không kê khai chứng từ này tại Tờ khai thuế GTGT của các tháng tiếp theo thì cơ sở kinh doanh B được kê khai khấu trừ bổ sung thuế GTGT đã nộp ở khâu nhập khẩu (theo chứng từ nộp thuế) theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Ví dụ 45 : Cơ sở kinh doanh Y đã nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu theo chứng từ nộp thuế trước ngày 01/3/2012, do nhầm lẫn, kế toán của cơ sở kinh doanh đã bỏ sót không kê khai chứng từ này, ngày 1/3/2012 kế toán của cơ sở kinh doanh mới phát hiện ra việc khai sót chứng từ nêu trên thì cơ sở kinh doanh B được kê khai khấu trừ bổ sung thuế GTGT đã nộp ở khâu nhập khẩu (theo chứng từ nộp thuế) theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
c) Trường hợp cơ sở kinh doanh đã lập hoá đơn GTGT bán hàng hoá, dịch vụ nhưng phát hiện sai sót về thuế GTGT, phải lập hoá đơn điều chỉnh, bổ sung thì thời hạn kê khai khấu trừ, bổ sung thuế GTGT của cơ sở kinh doanh mua hàng hoá, dịch vụ được tính từ thời điểm lập hoá đơn điều chỉnh, bổ sung.
8. Số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ, cơ sở kinh doanh được hạch toán vào chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc vào tính vào nguyên giá tài sản cố định theo quy định của pháp luật.
9. Văn phòng Tổng công ty, tập đoàn không trực tiếp hoạt động kinh doanh và các đơn vị hành chính sự nghiệp trực thuộc như: Bệnh viện, Trạm xá, Nhà nghỉ điều dưỡng, Viện, Trường đào tạo... không phải là người nộp thuế GTGT thì không được khấu trừ hay hoàn thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ mua vào phục vụ cho hoạt động của các đơn vị này.
Trường hợp các đơn vị này có hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT thì phải đăng ký, kê khai nộp thuế GTGT riêng cho các hoạt động này.
Ví dụ 46: Văn phòng Tổng công ty A không trực tiếp sản xuất, kinh doanh, sử dụng kinh phí do các cơ sở trực thuộc đóng góp để hoạt động nhưng Văn phòng Tổng công ty có cho thuê nhà (văn phòng) phần không sử dụng hết thì Văn phòng Tổng công ty phải hạch toán, kê khai nộp thuế riêng cho hoạt động cho thuê văn phòng. Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ phục vụ cho hoạt động của Văn phòng Tổng công ty không được khấu trừ hay hoàn thuế.
10. Thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho các hoạt động cung cấp hàng hoá, dịch vụ không kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng quy định tại Điều 5 Thông tư này được khấu trừ toàn bộ.
Ví dụ 47: Công ty cổ phần xây dựng X nhận xây dựng công trình tại Lào. Ngoài số nguyên liệu, vật tư xuất khẩu sang Lào để thực hiện công trình xây dựng, Công ty CP xây dựng X có phát sinh một số chi phí khác tại Việt Nam phục vụ hoạt động thi công công trình tại Lào như chi phí quản lý, các chi phí này có hóa đơn GTGT (đối với những hóa đơn GTGT có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thực hiện thanh toán qua ngân hàng) thì Công ty cổ phần xây dựng X được kê khai, khấu trừ toàn bộ thuế GTGT đầu vào của các chi phí nêu trên.
11. Cơ sở kinh doanh được kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ mua vào dưới hình thức uỷ quyền cho tổ chức, cá nhân khác mà hoá đơn mang tên tổ chức, cá nhân được uỷ quyền bao gồm các trường hợp sau đây:
a) Doanh nghiệp bảo hiểm ủy quyền cho người tham gia bảo hiểm sửa chữa tài sản; chi phí sửa chữa tài sản cùng các vật tư, phụ tùng thay thế có hóa đơn GTGT ghi tên người tham gia bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện thanh toán cho người tham gia bảo hiểm phí bảo hiểm tương ứng theo hợp đồng bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm được kê khai khấu trừ thuế GTGT tương ứng với phần bồi thường bảo hiểm thanh toán theo hóa đơn GTGT đứng tên người tham gia bảo hiểm; trường hợp phần bồi thường bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm thanh toán cho người tham gia bảo hiểm có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì phải thực hiện thanh toán qua ngân hàng.
b) Trước khi thành lập doanh nghiệp, các sáng lập viên có văn bản ủy quyền cho tổ chức, cá nhân thực hiện chi hộ một số khoản chi phí liên quan đến việc thành lập doanh nghiệp, mua sắm hàng hóa, vật tư thì doanh nghiệp được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo hóa đơn GTGT đứng tên tổ chức, cá nhân được ủy quyền và phải thực hiện thanh toán cho tổ chức, cá nhân được ủy quyền qua ngân hàng đối với những hóa đơn có giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên.
12. Trường hợp cá nhân, tổ chức không kinh doanh có góp vốn bằng tài sản vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần thì chứng từ đối với tài sản góp vốn là biên bản chứng nhận góp vốn, biên bản giao nhận tài sản. Trường hợp tài sản góp vốn là tài sản mới mua, chưa sử dụng, có hoá đơn hợp pháp được hội đồng giao nhận vốn góp chấp nhận thì trị giá vốn góp được xác định theo trị giá ghi trên hoá đơn bao gồm cả thuế GTGT; Bên nhận vốn góp được kê khai khấu trừ thuế GTGT ghi trên hoá đơn mua tài sản của bên góp vốn.
13. Đối với hộ kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp trên GTGT được chuyển sang nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế, được khấu trừ thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào phát sinh kể từ tháng được áp dụng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế; đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào trước tháng được áp dụng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế thì không được tính khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
14. Cơ sở kinh doanh không được tính khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với trường hợp:
- Hoá đơn GTGT sử dụng không đúng quy định của pháp luật như: hóa đơn GTGT không ghi thuế GTGT (trừ trường hợp đặc thù được dùng hoá đơn GTGT ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT);
- Hoá đơn không ghi hoặc ghi không đúng một trong các chỉ tiêu như tên, địa chỉ, mã số thuế của người bán nên không xác định được người bán;
- Hoá đơn không ghi hoặc ghi không đúng một trong các chỉ tiêu như tên, địa chỉ, mã số thuế của người mua nên không xác định được người mua (trừ trường hợp hướng dẫn tại khoản 11 Điều này);
- Hóa đơn, chứng từ nộp thuế GTGT giả, hóa đơn bị tẩy xóa, hóa đơn khống (không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo);
- Hóa đơn ghi giá trị không đúng giá trị thực tế của hàng hóa, dịch vụ mua, bán hoặc trao đổi.
- Hoá đơn không ghi hoặc ghi không đúng một trong các chỉ tiêu như tên, địa chỉ, mã số thuế của người bán nên không xác định được người bán;
- Hoá đơn không ghi hoặc ghi không đúng một trong các chỉ tiêu như tên, địa chỉ, mã số thuế của người mua nên không xác định được người mua (trừ trường hợp hướng dẫn tại khoản 11 Điều này);
- Hóa đơn, chứng từ nộp thuế GTGT giả, hóa đơn bị tẩy xóa, hóa đơn khống (không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo);
- Hóa đơn ghi giá trị không đúng giá trị thực tế của hàng hóa, dịch vụ mua, bán hoặc trao đổi.
Nguồn tham khảo
Điều 14 - Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012
Mục 8 của điều 1 - Thông tư số 65/2013/TT-BTC ngày 17/05/2013
Thứ Ba, 4 tháng 6, 2013
Hơn 219,800 doanh nghiệp đã khai thuế điện tử
Theo cuộc họp báo thường kỳ quý I của Bộ Tài chính họp ngày 10/4 vừa qua về việc thông báo kết quả triển khai các nhiệm vụ quan trọng của ngành; trong đó, đáng chú ý nhất là kết quả thu - chi NSNN; tình hình huy động vốn và việc tổ chức thực hiện các giải pháp tài chính - ngân sách theo Nghị quyết 01 và 02 của Chính phủ.
Báo cáo của Bộ Tài chính đã chỉ rõ: về tổng thu cân đối thực hiện tháng 3 đạt 54.140 tỷ đồng; lũy kế 3 tháng ước đạt 167.710 tỷ đồng, bằng 20,6% dự toán năm, giảm 2,6% so với cùng kỳ. Ngoài ra, trong quý I, ngành tài chính đã huy động được gần 65,5 nghìn tỷ đồng vốn trái phiếu chính phủ, đạt 33,6% kế hoạch năm. Tổng chi ngân sách tháng 3 đạt 70.850 tỷ đồng, lũy kế 3 tháng đạt 218.385 tỷ đồng, bằng 22,3% dự toán, tăng 6%.
Trong quý đầu năm, thông tư hướng dẫn thực hiện gia hạn, giảm một số khoản thu ngân sách đã được ngành tài chính đã ban hành; trình Chính phủ ban hành nghị định về lệ phí trước bạ, trong đó có nội dung điều chỉnh giảm lệ phí trước bạ đối với xe ôtô chở người dưới 10 chỗ; Tăng cường theo dõi, kiểm tra, kiểm soát việc kê khai nộp thuế, hoàn thuế; kiểm tra, rà soát các đối tượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, qua đó phát hiện kịp thời những trường hợp không đăng ký thuế để đưa vào diện quản lý, tổ chức thu đầy đủ các khoản thuế phát sinh vào NSNN. Đặc biệt, ngành tài chính đã rà soát, bổ sung để sửa đổi thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý tài chính - NSNN, nhất là thủ tục hành chính về quản lý thuế nội địa và thu hải quan; tăng cường công tác khai thuế điện tử, đẩy mạnh triển khai nộp thuế qua hệ thống ngân hàng. Theo số liệu thống kê mới nhất, tính đến cuối tháng 3, công tác kê khai thuế điện tử đã được triển khai tại 50 Cục Thuế địa phương và đã có 219.848 DN khai thuế điện tử, tập trung nhiều nhất tại các địa bàn như Hà Nội, TP HCM, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu.
-------------------
Thông tin liên hệ khu vực Hà Nội & Hồ Chí Minh:
Mr: Sơn – 0962.63.8668 / 0168.24.25678
Email: sontq@viettel.vn - quangson105@gmail.com
Địa Chỉ: Tại Hà Nội: Số 108 Nguyễn Trãi – Thanh Xuân – Hà Nội
Tại Hồ Chí Minh : Số 158/2A Hoàng Hoa Thám – Tân Bình - Hồ Chí Minh
Website : http://www.chukysoviettel.com/
Nhãn:
chữ ký số rẻ nhất,
chữ ký số viettel,
hỗ trợ chữ ký số viettel,
khai thuế qua mạng,
VIETTEL CA,
viettelca,
Vtax
Google Account Video Purchases
Bộ Tài chính, Trần Hưng Đạo, Phan Chu Trinh, Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam
Thứ Hai, 8 tháng 10, 2012
Viettel triển khai dịch vụ chứng thực chữ ký số và thuế điện tử
Trên thị trường hiện có 6 nhà cung cấp dịch vụ chứng nhận chữ ký số và 6 nhà cung cấp dịch vụ thuế điện tử. Riêng Viettel là doanh nghiệp đang cung cấp song song cả 2 dịch vụ trên và có nhiều kinh nghiệm triển khai các giải pháp hợp cho doanh nghiệp Vận dụng chữ ký số, khai báo và nộp thuế qua mạng nhằm đơn giản hóa các thủ tục hành chính, góp phần xây dựng Chính phủ điện tử. Bộ Tài chính đã nêu đích đến hết năm 2012 sẽ có 350.000 doanh nghiệp ở Việt Nam dùng chữ ký số. Trọng Nghĩa |
Ưu đãi trọn gói dịch vụ chứng thực chữ ký số và thuế điện tử
Bắt đầu từ tháng 6/2012 đến hết 31/7/2012, khi đăng ký trọn gói 2 dịch vụ Viettel-CA và VTax theo các mức 1 năm, 2 năm hoặc 3 năm, khách hàng sẽ được nhận các giá trị khuyến mại tương đương 660.000đ, 945.000đ và 1.489.000đ. Các hình thức khuyến mại mà Viettel đưa ra bao gồm: giảm 30% cước phí VTax mỗi năm, tặng 9 tháng sử dụng Viettel-CA và VTax, tặng USB Token. Chữ ký số có giá trị pháp lý như chữ ký và con dấu trong giao tiếp giấy tờ truyền thống. Trong lĩnh vực hành chính công điện tử, chữ ký số đẵn được sử dụng để kê khai thuế điện tử, thương chính điện tử; giao tế nhà băng điện tử, chứng khoán điện tử, v.V… Trên thị trường hiện có 6 nhà cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số và 6 nhà cung cấp dịch vụ thuế điện tử. Trong đó, Viettel là một trong số ít các doanh nghiệp đang cung cấp đồng thời cả 2 dịch vụ trên. Nhằm đơn giản hóa các thủ tục hành chính, góp phần xây dựng Chính phủ điện tử. Bộ Tài chính đã đặt ra đích đến hết năm 2012 sẽ có 350.000 doanh nghiệp ở Việt Nam sử dụng chữ ký số. Trong khi đó, theo số liệu thống kê của Tổng cục thuế, tính đến đầu năm 2012, có 56.000 doanh nghiệp kê khai thuế điện tử qua mạng. P.V |
Ưu đãi DN nộp thuế điện tử
Hiện Viettel là một trong 6 đơn vị được Tổng cục Thuế cấp phép cung cấp dịch vụ thuế điện tử (T-VAN). 5 đơn vị còn lại là Công ty Seatech, Công ty Thái Sơn, BKAV, FPT. Tuy nhiên, với chương trình ưu đãi này, Viettel đang là đơn vị có nhiều chính sách tương trợ các DN và cá nhân tham dự nộp thuế điện tử qua mạng internet. Thời kì qua, Viettel đã thực hiện những giải pháp đồng bộ cho Viettel-CA và VTax trong việc nâng cao năng lực hệ thống, nhất là về vấn đề bảo mật và chính xác, đồng thời không ngừng gia tăng ưu đãi trọn gói về cước phí, Thời gian khuyến mại, thủ tục đăng ký, trông nom khách hàng. Đích của ngành thuế đặt ra đến hết năm 2012 sẽ có 350.000 DN ở Việt Nam sử dụng chữ ký số. Tính đến thời điểm bây giờ, cả nước đã có 56.000 DN kê khai thuế điện tử. Về phía ngành thuế có nhiều chính sách hỗ trợ và sẽ mở rộng các đơn vị cung cấp dịch vụ T-Van, coi đây là “cánh tay nối dài đắc lực” của ngành thuế với người nộp thuế./. Trung Kiên |
Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2012
Hải quan Bình Dương: Phổ biến lợi ích và lịch trình vận dụng CKS đến cộng đồng DN
Để đưa thủ tục thương chính điện tử (TTHQĐT) trở thành phương thức thực hiện thủ tục Hải quan đương đại thì một trong những điểm quan trọng trong Thông tư 196 là quy định về sử dụng chữ ký số trong TTHQĐT.
| Hải Quan Bình Dương |
Theo Khoản C, Điều 4, Nghị định 87 và Điều 5 Thông tư 196/2012/TT-BTC: Khi thực hành TTHQĐT, người khai thương chính phải sử dụng CKS đã đăng kí với cơ quan Hải quan. Trong thời đoạn chưa có CKS thì được sử dụng tài khoản truy nhập Hệ thống xử lí dữ liệu điện tử thương chính để thực hiện TTHQĐT. Người khai thương chính có bổn phận bảo mật trương mục để sử dụng khi giao tế với cơ quan Hải quan ưng chuẩn Hệ thống xử lí dữ liệu điện tử Hải quan và chịu bổn phận về các giao dịch điện tử theo quy định của pháp luật. Theo đó, CKS dùng trong TTHQĐT của người khai thương chính là CKS công cộng đã được cơ quan thương chính công nhận tương xứng với Hệ thống xử lí dữ liệu điện tử thương chính. Việc dùng CKS và giá trị pháp lí của CKS thực hành theo quy định tại Điều 8 và Điều 12 Nghị định số 26/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật giao tế điện tử về CKS và dịch vụ chứng nhận CKS. Trước khi dùng CKS để thực hành TTHQĐT, người khai Hải quan phải đăng kí CKS với cơ quan Hải quan duyệt y Cổng thông báo điện tử Hải quan. Các nội dung đăng kí gồm: Tên, mã số thuế của cơ quan, tổ chức XNK hoặc đại lí làm thủ tục thương chính (nếu có); họ và tên, số chứng minh dân chúng hoặc hộ chiếu, chức danh (nếu có) của người được cấp chứng thư số; số nhận dạng CKS (Serial Number); hạn vận hiệu lực của CKS; người khai Hải quan phải đăng kí lại với cơ quan thương chính các thông báo trong các trường hợp (các thông báo đã đăng kí có sự đổi thay, gia hạn chứng thư số, đổi thay cặp khóa, tạm dừng chứng thư số). Để đảm bảo lịch trình thực hành CKS, ngoài ráng của cơ quan thương chính, cộng đồng doanh nghiệp (DN) cũng cần chủ động, chóng vánh đăng kí CKS với cơ quan thương chính. Do đó, việc dùng CKS trong TTHQĐT là thực hành đúng quy định của Chính phủ. Đồng thời, việc dùng CKS cũng tăng tính chuẩn xác, chống chối bỏ trong thực hành TTHQĐT, qua đó nâng cao an ninh, an toàn trong giao tế giữa DN với cơ quan Hải quan trong môi trường điện tử. Với hoạt động Hải quan, điều này có ý nghĩa khôn xiết quan trọng khi TTHQĐT và sắp tới ngành Hải quan sẽ vận hành thí nghiệm và chuẩn bị áp dụng chính thức Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS… Trong thời gian qua, thực hành theo chỉ đạo chung của Tổng cục Hải quan, từ ngày 20/2/2012, Cục thương chính Bình Dương đã tiến hành thực hiện thể nghiệm CKS với 20 DN làm TTHQĐT tại Chi cục Hải quan quản lí hàng hóa XNK ngoài khu công nghiệp. Sau thời kì thử nghiệm 1 tháng, Cục mở rộng khai triển tại các Chi cục còn lại thì đến nay đã có trên 130 DN tham dự, với tổng số tờ khai sử dụng CKS là trên 80.000 tờ khai. Nhưng con số này vẫn còn khá khiêm tốn so với khoảng 3.000 DN đang làm thủ tục Hải quan tại Bình Dương. Chính vì vậy, trong cuộc họp giao ban mới đây, ông Dương Hồng Hạnh - Phó Cục trưởng Cục thương chính Bình Dương đã chỉ đạo: Giao trọng tâm Dữ liệu và Công nghệ thông tin tiến hành nâng cấp hệ thống cộng nghệ thông báo tại đơn vị và có văn bản hướng dẫn cụ thể, rõ ràng để các Chi cục thương chính trực thuộc thực hiện việc niêm yết công khai tại trụ sở làm việc của Chi cục, tuyên truyền qua website của Cục về việc hướng dẫn DN về cách thức đăng ký, nơi đăng ký, lịch trình ứng dụng CKS… để cho DN nắm bắt kịp thời và có kế hoạch chuẩn bị trước. Ngoài ra, phải hối hợp với các công ty phần mềm trên địa bàn tương trợ tối đa cho DN trong việc cài đặt chương trình cần thiết trong hệ thống. Qua đó, bảo đảm 100% DN phải dự CKS từ ngày 01/11/2013 theo chỉ đạo của Bộ Tài chính, Tổng cục thương chính… Đồng thời, ông Dương Hồng Hạnh cũng đề nghị các đơn vị phổ biến rộng rãi tới cán bộ, công chức và đưa nội dung hướng dẫn việc đăng ký dùng chữ ký số trong các buổi đào tạo, tập huấn về hệ thống VNACCS/VCIS sắp tới cho CBCC và DN… Nhằm thực hành thống nhất quy định về CKS trong giao du thương chính điện tử, Tổng cục thương chính đã ban hành công văn số 5559/TCHQ-CNTT ngày 20/9/2013 để hướng dẫn các Cục thương chính tỉnh, thị thành thực hiện các nội dung cụ thể can hệ đến triển khai CKS công cộng trong TTHQĐT. Trước đó, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 2341/QĐ-BTC ngày 18/9/2013, quy định về lộ trình khai triển dùng CKS công cộng trong TTHQĐT. Việc dùng CKS công cộng trong TTHQĐT theo Quyết định 2341/QĐ-BTC được thực hiện theo Thông tư số 196/2012/TT-BTC ngày 15/11/2012 của Bộ Tài chính, trong thời đoạn thực hiện chạy thử nghiệm hệ thống VNACCS/VCIS (từ tháng 11/2013 đến tháng 2/2014) và thực hiện chính thức hệ thống từ tháng 4/2014. ( Lê Xuyền )
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
.jpg)

